Friday, September 14, 2012

Trôi vào cổ tích...



Trôi vào cổ tích

      
 Suốt những tháng năm ấu thơ, ngoại vẫn nắm bàn tay nhỏ xíu của tôi đi từ khu vườn rộng lớn của hai bà cháu, vượt qua tất cả núi sông và biển cả để đi đến một thế giới diệu kì. Ngoại gọi đó là cổ tích, một thế giới chỉ có những đứa trẻ ngoan mới được mời vào dạo chơi cùng bà tiên, ông bụt. Bao giờ ngoại cũng ngồi một chỗ, lặng lẽ quan sát và sẵn sàng nâng đứa cháu bé nhỏ dậy mỗi khi vấp ngã, lau nước mắt cho tôi mỗi khi khóc òa và đặt lên trán tôi những nụ hôn âu yếm. Khi ấy bố mẹ tôi còn ở một thế giới nào đó, còn xa xôi hơn cả thế giới cổ tích mà bà vẫn thường đưa tôi đến. Suốt những năm tháng ấu thơ tôi chưa khi nào thôi mong nhớ họ. Dù nhận lại chỉ là mấy thứ đồ chơi xa xỉ, chút tiền ăn quà vặt và đôi ba bộ quần áo nhiều màu sắc mà tôi chỉ dám mang chúng ra để ngắm nhìn.
       Khu vườn nhà tôi rất rộng, có đủ các loại cây, mùa nào thức ấy, hoa thơm quả ngọt đủ để dẫn dụ tôi chạy nhảy cả ngày ở trong vườn. Mùa xoài mùa vải tôi bắt bọ xít, chế tạo ra chiếc xe nhỏ xíu bằng mảnh nhôm mỏng, hai bánh xe lấy từ chiếc bật lửa hỏng và ít nhựa đường ngoại vẫn thường hàn chậu. Tôi có thể tha thẩn chơi một mình cả ngày bên tiếng chim chóc ríu ran, vui nhộn. Tôi leo cành cây này chuyền qua khác, ngửa cổ nhìn những chú chim non đang được chim mẹ dạy tập bay, tập chuyền cành. Tôi thường nhìn cảnh đượng đẹp đẽ ấy một cách say sưa. Nhìn cách chim mẹ quan sát chim con từng tí một và cũng giật mình khi thấy chim mẹ hoảng hốt vì lo lắng cho chú chim non vừa mất đà, rơi xuống vòm lá xanh um. Những lúc ấy tôi thấy nhớ mẹ nhiều lắm, nhớ một gương mặt, một dáng hình chưa từng tồn tại trong kí ức của tôi. Thế mà nhớ đến quắt quay, nhớ trào nước mắt mỗi khi nhìn cả gia đình nhà chim sum họp sau một ngày dài vất vả kiếm mồi. Những lúc ấy bà thường vỗ về tôi bằng câu chuyện cổ tích ngọt ngào có chàng Thạch Sanh cứu Hằng Nga trong hang ác quỷ hay chuyện chàng Sọ Dừa có một tâm hồn đẹp đẽ. Bà kể bằng gương mặt và nụ cười cũng hiền như cổ tích còn thoảng thoảng mùi trầu trên môi bà thắm đỏ.
       Một hôm tôi bảo bà kể sự tích trầu cau xem vì sau cau trầu và vôi quyện với nhau lại thành sắc đỏ. Bà tủm tỉm cười, vỗ lưng tôi khe khẽ, khi bà kể đến đoạn anh đi tìm em, vợ đi tìm chồng rồi hóa thành tảng đá, lá trầu và cây cau quấn quýt lấy nhau. Bà không biết rằng tôi úp mặt vào lòng bà khóc vùi, khóc vụng. Tôi cứ tự hỏi tại sao bố mẹ và các anh chị lại không đến thăm tôi. Rồi tôi lại tự ước ao mình khôn lớn nhanh để có thể vượt qua những quảng cách rộng dài để đi tìm họ. Dù có thể sẽ biến thành tảng đá vôi trong rừng nằm bên dòng suối thì tôi vẫn muốn một lần được xà vào vòng tay yêu thương của mẹ cha, của anh em ruột thịt. Đó là những thứ tôi chưa khi nào có được, dù bà có vỗ về, an ủi tôi dịu dàng đến nhường nào đi nữa.
        Có những buổi trưa hai bà cháu mang chiếc trõng tre ra giữa vườn nằm. Gió khua lá xoài, lá nhãn xào xạc, tiếng chim rinh rích tìm mồi. Tôi nằm im bên ngoại nhìn những sợi tóc trắng phất phơ bay mà có một nỗi hoang mang cứ chao đảo trong lòng, nôn nao đến lạ. Tôi hỏi ngoại:
      -Ngoại ơi, liệu có loại thuốc thần kì nào giúp con người trường sinh bất tử không ạ?
Ngoại vỗ về nhè nhẹ vào lưng tôi bảo:
      -Cháu còn bé, không nên nghĩ nhiều về sự sống và cái chết. Mỗi người đều có một phúc phận. Tuy nhiên bà tin rằng ai sống tốt thì sẽ được trường sinh.
     -Thế cái bác vừa mất sáng nay ở thôn bên là người không tốt phải không ngoại? Bác ấy vẫn còn rất trẻ vậy mà...
     -À! Bác ấy là người tốt nên được đưa về thiên đường sớm cháu ạ.
     -Thiên đường là nơi đâu hả ngoại?
     -Là một nơi vô cùng đẹp đẽ nhưng cũng rất xa xôi.
     -Thế cháu có thể đến đấy không bà?
     -Ôi! Cái con cháu bé nhỏ và khờ dại của bà...
      Ngoại lại vỗ về tôi, vuốt những sợi tóc mai trên trán tôi, dường như trong đôi mắt ngoại đang căng mọng nước, mong manh như chỉ trực vỡ òa. Tôi lại nằm im, hít hà mùi trầu trong từng hơi thở ngoại. Nhưng ý nghĩ về đám ma, về tiếng kêu khóc thảm thiết và về những buổi chiều ảm đạm khi nhìn người sống khênh người chết ra bãi tha ma vẫn không thôi ám ảnh tôi. Tôi lại day lưng ngoại hỏi:
      -Thế bác ấy mất rồi thì lấy ai nuôi con bác ấy hả ngoại?
      -Cháu yên tâm, sẽ có những người tốt đứng ra bao bọc chúng. Tội nghiệp mấy đứa trẻ.
        Rồi những đứa trẻ vừa mất đi người cha ấy làm bạn cùng tôi trong khu vườn của ngoại. Ba anh em tên Hưng, Hiền, Hùng đều có khuôn mặt đẹp như những thiên thần, đó là những người bạn đầu tiên trong cuộc đời tôi bởi trước đó không đứa trẻ nào muốn lại gần tôi cả. Thường thì chúng lẳng lặng nhìn tôi, thoáng chút sợ hãi rồi bỏ chạy. Lúc còn bé, tôi chỉ nghĩ chắc vì tôi bị mù một bên mắt mà thôi nhưng lớn lên tôi phát hiện ra gương mặt mình cũng không đẹp đẽ gì. Lần đầu tiên soi mình vào vại nước mưa dưới bầu trời trong xanh vời vợi. Tôi nhìn rõ một bên mắt toàn màu trắng đục. Tự nhiên tôi cứ đứng cúi mình lặng lẽ trước vại nước mưa, tôi thấy dòng nước chảy chầm chậm từ khóe mắt màu trắng đục.
         Những người bạn đầu tiên mang đến cho tôi sự ấm áp. Chúng tôi vui chơi, yêu thương và giận hờn nhau như bao nhiêu đứa trẻ khác trên đời. Ngoại có thêm tiếng cười làm ấm cả khu vườn, làm tuổi già của ngoại như với bớt. Những đêm trăng mùa hè, ngoại hay nấu chè đỗ đen, chè hương bưởi rồi bảo tôi gọi mấy đứa trẻ ấy sang chơi. Chúng tôi ngồi quây quần bên ngoại vừa ăn chè vừa nghe kể chuyện cây khế, chuyện cây tre trăm đốt mà vui sướng khôn cùng. Đôi lúc những đứa trẻ ấy cũng hỏi ngoại về bố chúng, lần nào ngoại cũng dẫn chúng đến một thiên đường tuyệt đẹp. Nơi ấy có hoa thơm, quả ngọt, có suối róc rách chảy, có chim kêu sớm chiều, và tất cả mọi người đều được mặc đẹp, được dạo chơi như tiên nữ trong bộ phim Tây Du ký.
                                                     * * *
       Một hôm khi tôi đang tha thẩn chơi một mình thì thấy bác bưu tá đến đưa bưu phẩm cho ngoại. Đó là một mảnh vải màu nâu chắc để cho bà may áo và một chiếc mũ rộng vành được khâu bằng nhiều múi hình. Mỗi múi một màu sắc khác nhau. Trên mũ in hình con mèo con tinh nghịch trông rất đáng yêu. Ngoài ra bác bưu tá còn đưa cho bà một giấy nhận tiền, bà cầm tờ giấy hồi lâu rồi thở dài thườn thượt. Sáng hôm sau bà dặn tôi ở nhà trông nhà rồi đi bộ lên bưu điện xã, lúc trở về bà mua cho tôi rất nhiều quà bánh, có cả một con búp bê tóc vàng.
      -Bố mẹ cháu lại gửi tiền hả ngoại?
      -Ừ! Bố mẹ còn dặn cháu ở nhà phải ngoan và học giỏi.
      -Sao bố mẹ không về thăm cháu, cả các anh chị của cháu nữa?
      -Bố mẹ cháu bận lắm, khi nào thu xếp được thời gian nhất định sẽ đưa cả nhà về thăm hai bà cháu mình. Thế nên cháu phải cố gắng, chăm chỉ học hành, biết không nào!
       Thế đấy, ngoại luôn gieo vào lòng tôi sự mong chờ khắc khoải, nhưng nếu thiếu nó thì chắc tuổi thơ tôi sẽ thành ra tẻ nhạt và rỗng rễnh. Sẽ không còn những buổi chiều tôi trốn ngoại, trèo tít lên ngọn cây ổi cao nhất vườn để ngóng về phía đầu làng vào giờ tàu dừng ga vì ngoại từng bảo tất cả ai đâu xa thì đều đi bằng tàu và về cũng bằng tàu hết. Lớn lên tôi mới có xe khách chạy về huyện nhưng lên huyện thì xa lắm nên người làng tôi vẫn chọn cách xuôi ngược bằng tàu. Tôi ngồi chờ hết ngày này sang ngày khác, phân biệt được giờ tàu xuôi, giờ ngược. Nghe thấy tiếng còi tàu về như náo nức niềm vui hội ngộ của biết bao người, nhưng tiếng còi tàu đi thì nghe sao nhói buốt nỗi buồn phải chia xa. Mấy anh em Hưng hay đến và ngồi im lặng bên tôi, ngửa mặt lên vòm lá nhìn một đốm nắng len lỏi giữa tán lá dày. Chúng tôi hay nói về mơ ước. Hưng bảo:
       -Lớn lên tớ sẽ làm một thợ xây giỏi như bố tớ. Rồi tớ sẽ xây cho mẹ một căn nhà thật đẹp. Xây cả cho hai bà cháu cậu nữa, nếu như cậu muốn.
       -Còn tớ sẽ làm một thầy giáo, tớ sẽ kể chuyện cổ tích như bà cậu vẫn thường kể cho chúng ta nghe ý. Làm thầy giáo thì thật thích đúng không?- Hùng nhìn lên trời bằng ánh mắt trong veo như thể chưa có một nỗi đau nào chạm vào tâm trí. 
       Rồi Hùng quay qua nhìn tôi như chờ đợi. Tôi chưa bao giờ từng nghĩ xem lớn lên tôi muốn làm gì. Tôi lúc nào cũng chỉ cần được gặp lại những người thân của mình thì đó đã là niềm hạnh phúc lớn lao rồi. Nên tôi nói đùa với các bạn của mình rằng lớn lên tôi muốn làm phi công, tất cả đều cười ồ trước mơ ước của tôi. Lúc ấy tôi nghĩ thầm nếu ngoại nghe thấy chắc ngoại cũng phải ngỡ ngàng lắm vì ai đời con gái lại thích làm phi công. Nhưng kì thực, tôi chẳng biết gì về nghề lái máy bay cả ngoài ý nghĩ được bay trên bầu trời xanh thẳm để nhìn xuống xem khu vườn của hai bà cháu bé xíu đến mức nào. Tôi cũng không hiểu rằng bị mù một mắt như tôi thì chẳng bao giờ có thể làm phi công được, có chăng chỉ là lái những giấc mơ thánh thiện, tràn ngập cổ tích của mình trôi vào thế giới tuổi thơ để rồi chỉ còn là những mảng màu kí ức.
       Sau này lúc lớn lên tôi lại nghĩ, nếu có bố mẹ bên cạnh biết đâu tôi sẽ mơ ước khác về một nghề nghiệp nào đó với ý nghĩa đầy tốt đẹp như mấy đứa bạn. Mà ngoại thì từng bảo những suy nghĩ tốt đẹp thường mang đến một con người nhân hậu và những hành vi tốt đẹp. Đến khi trưởng thành tôi mới thật sự hiểu những gì ngoại nói, nó giống như câu thần chú “vừng ơi mở ra” trong Alibaba và bốn mươi tên cướp. Nó có thể mang đến giàu sang hạnh phúc cho anh chàng Alibaba, một tiều phu nghèo, chăm chỉ, không tham lam, nhưng nó lại mang đến cái chết với Kasim một người vốn dĩ rất tham lam. Giá như có ai đó dạy tôi cách để có một ước mơ thật đẹp...
       Những món quà ở nước ngoài thi thoảng lại được gửi về. Mỗi lần bác bưu tá đến là một lần khuấy động vào tôi những nhung nhớ, chờ mong và cả chút giận hờn con trẻ. Tôi không biết thế giới của bố mẹ tốt đẹp và xa xôi đến nhường nào mà suốt mười mấy năm trời không một lần mẹ tìm về thăm ngoại và ôm tôi một cái. Tôi thèm được sà vào lòng mẹ, sờ nắn từng đường nét trên khuân mặt mẹ. Thèm được mẹ ôm thật chặt hôn nhẹ lên trán tôi một cái trước lúc đi ngủ như bao bà mẹ khác vẫn thường làm. Tôi cũng rất muốn được cha làm cho một chiếc diều, để tôi còn có cái mà kể với anh em Hưng, chứ không phải nằm im re như kẻ không có chút kí ức nào, mỗi khi chúng kể về người cha đã mất. Tôi cũng muốn được gặp các anh chị mình, chắc chắn họ sẽ chiều chuộng, thương yêu tôi như mấy anh em Hưng vẫn thường chăm chút nhau từng tí một.
                                                          * * *
      Tôi mười sáu tuổi. Ngoại mất vào một sáng mùa thu khi đi ra vườn làm cỏ mấy luống rau. Mọi người nói do hôm đó có cơn gió độc tạt ngang, ngoại lại một mình ngoài vườn nên lúc trúng gió không ai biết. Tôi khóc dòng không biết bao nhiêu tháng ngày vì thương ngoại và vì thấy đời mình trống trải. Giá như hôm đó tôi dậy sớm ra vườn cùng ngoại thì có khi ngoại đã không ra đi như thế. Giá như có bố mẹ ở nhà thì ít ra đám tang ngoại đã không đìu hiu, lặng lẽ đến thiếu cả tiếng khóc than. Lúc đưa ngoại xuống huyệt giá như có thêm vài người ném những hòn đất nhỏ xuống huyệt chắc ngoại cũng thấy đỡ tủi hơn. Nhà không còn ai, tôi phải nhờ người hàng xóm sang dạy các lễ cúng, để ngoại có thể về nhà, ăn một bữa cơm tươm tất. Tôi nấu những món mà khi sống ngoại vẫn thường nấu cho tôi. Có thể là xôi hơi cứng, cá kho riềng không được ngon nhưng nếu có thể trở về được chắc là ngoại rất vui. Tôi học mãi không sao thuộc nổi những bài cúng, cuối cùng tôi đành khấn rằng “Ngoại về ăn với con một bữa cơm” mà thương ngoại trào nước mắt.
       Câu chuyện cuối cùng ngoại kể cho tôi hình như không phải là cổ tích. Ngoại kể về ba đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ trong một vụ tai nạn giao thông. Sau đó có hai người đàn bà đến xin nhận con nuôi, người thì chọn đứa lớn nhất có đôi mắt sáng nhìn rất thông minh. Người thì chọn cô gái có mái tóc đen mượt và nụ cười hiền hậu. Chỉ còn cô út do xấu xí hơn nên không ai nhận, cuối cùng có một người phụ nữ đã nhiều tuổi nhận về nuôi để sau này đỡ hưu quạnh tuổi già. Khi ngoại kể đến đó thì thấy ngoại lấy khuỷu tay nhăn nheo, già nua lau nước mắt. Tôi bảo ngoại:
       -Sao cháu không thấy giống một câu chuyện cổ tích ngoại ạ.
       -Ờ! Ờ! Thì nếu cháu coi nó là cổ tích thì nó sẽ là cổ tích.
       -Vậy đứa trẻ ấy sau này ra sao hả ngoại?
       -Cô bé đó rất ngoan, lớn lên cô tìm thấy anh chị em ruột của mình. Rồi cô cũng sẽ có một chàng trai để thương để nhớ vì cô có một tâm hồn đẹp nên người ta quên đi cái bề ngoài khiếm khuyết .
        Chợt nghĩ đến bản thân mình, tôi liền hỏi ngoại:
       -Thế còn cháu, lớn lên liệu cháu có thể tìm gặp những người thân của mình không và liệu có nhiều người còn muốn chơi với cháu nữa không hả ngoại?
        Ngoại ôm tôi vào lòng, rất chặt, ngoại thơm lên khuôn mặt tôi. Nước mắt hai bà cháu hào vào nhau đầm đìa. Sau khi kể câu chuyện ấy không bao lâu thì ngoại mất, tôi tiếc ngẩn ngơ vì còn nhiều điều chưa kịp hỏi.
Vắng ngoại, tôi phải tập sống một mình khi mỗi sớm mai không còn ai đánh thức dậy bằng những cử chỉ ân cần, tràn ngập tình yêu thương như ngoại. Vắng ngoại, căn nhà ba gian như càng thênh thang gió, khu vườn như bớt tiếng ríu ran chim chóc. Thi thoảng chim mẹ lại dạy chim con chuyền cành rồi bỗng chốc lẫn vào vòm lá xanh um như để lại trong tôi một khoảng trống vô hình. Những buổi trưa mắc võng nằm một mình ngoài vườn, tôi như ngửi thấy mùi trầu không của bà thoang thoảng đâu đây. Nhắm mắt vào, tưởng như mình đang bước đến một thế giới cổ tích hồn hậu và tươi đẹp. Những lúc ấy lòng tôi nhớ ngoại nhiều biết mấy...
Ngoại mất, những người dân trong làng hay ghé qua thăm tôi và thắp nén nhang cho hương hồn bà bớt quạnh quẽ. Hầu hết họ đều là những người từng được bà tôi giúp đỡ khi còn sống. Họ mang đến cho tôi mớ rau, con cá và chút tình thương ấm áp để tôi thấy đời mình không cô độc. Bỗng một ngày, một người trong làng từng rất thân thiết với ngoại đã nói với tôi rằng, tôi là đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, ở tận huyện bên được ngoại nhận về nuôi khi con nhỏ xíu. Tôi còn có anh chị ruột, cũng đã được những người phụ nữ tốt bụng cưu mang giờ chắc đã khôn lớn lắm rồi. Khi ngoại đón tôi về nhà, người làng thấy tôi mù một mắt lại mồ côi mồ cút mà đem lòng thương cảm. Ngoại dặn mọi người không ai được nói gì về thân phận của tôi cho đến khi ngoại nhắm mắt, xuôi tay về với đất trời. Bởi ngoại sợ làm tôi bị tổn thương  với một thân phận đầy bất hạnh, nhất là khi tôi chưa đủ khôn lớn để học cách chấp nhận những gì đã xảy ra trong cuộc đời mình.
Bỗng nhiên tôi nhớ đến câu chuyện cổ tích cuối cùng của ngoại mà òa khóc. Hóa ra ngoại đã từng tạc lên gương mặt cha mẹ tôi bằng những nét vẽ đẹp đẽ nhất của sắc màu cổ tích để dẫn tôi đi qua những tháng năm ấu thơ mỏng manh, khờ dại. Tôi không hờn trách ngoại mà chỉ thấy tiếc vô cùng bao ảo ảnh mơ hồ mình từng vịn vào để sống giờ đã thật sự vỡ òa.
        Tôi học cách chấp nhận những rạn vỡ tin yêu thuở đầu đời bằng câu chuyện cổ tích đầy nhân hậu mà chính ngoại đã mang lại cho cuộc đời tôi. Nghĩ đến ngoại tôi càng dặn lòng phải cố gắng sống thật tốt để không phụ công ngoại từng cưu mang, nuôi nấng và bao bọc tôi khi thơ nhỏ. Mười tám tuổi, tình yêu đầu đời đầy mộng mơ, tươi đẹp đã đến trong trái tim tôi. Người con trai đó không ai khác chính là Hưng, người đã từng bầu bạn với tôi từ thuở bé, lớn lên lại thầm lặng đi bên tôi đầy tin cậy. Có anh bên mình, tôi như được tiếp thêm nghị lực để sống có ý nghĩa hơn. Lúc này Hưng đã là một thợ xây  giỏi tay nghề đúng như mơ ước của anh lúc nhỏ. Khi Hưng bắt đầu đào móng, đặt những viên gạch đầu tiên trong ngôi nhà anh chắt chiu xây cho người mẹ suốt đời tảo tần mưa nắng của mình. Tôi mới giật mình tự hỏi mười tám tuổi rồi tôi có mơ ước nghề nghiệp gì không? Chợt nhớ đến ước mơ thành phi công mà bật cười, nghĩ thương mình và nhớ ngoại nôn nao.
 Chưa bao giờ tôi thèm khát được sống có ý nghĩa, được bao bọc, chở che những phận đời nghèo khó như ngoại đã từng làm. Tôi muốn đến những bản làng nghèo khó, muốn gieo vào lòng bao đứa trẻ lấm lem bùn đất một thế giới cổ tích đầy tốt đẹp. Nơi đó, khi còn sống ngoại đã bao lần dẫn tôi vào dạo chơi cùng câu thần chú, bên cây khế vàng, nàng Bạch Tuyết xinh đẹp, tốt bụng và những bà tiên, ông bụt đầy nhân hậu. Cuối cùng tôi quyết định thi Cao đẳng sư phạm mầm non và trở thành cô giáo trường làng sau ba năm ăn học. Hưng vẫn chờ tôi bằng thương yêu dịu dàng đầy tin cậy, khi những ngôi nhà do chính bàn tay anh xây lên đang đỏ lửa mỗi chiều và vang vang tiếng cười hạnh phúc.
Chúng tôi cưới nhau, tuy về nhà chồng sống nhưng cả hai vẫn thường xuyên quay trở về hương khói cho ngoại và chăm sóc vườn tược. Hưng bận rộn hơn với những ngôi nhà mới mọc lên ở khắp nơi. Một hôm, anh trở về nhà và mang theo câu chuyện về đứa trẻ mồ côi ở xã bên, không nơi nương tựa do bố mẹ mắc bệnh hiểm nghèo mới mất mà người thân thiết khác cũng chẳng còn ai. Cả đêm đó tôi không làm sao chợp mắt, tôi nghĩ về thân phận mồ côi của chính mình, nghĩ đến ngoại từng giang rộng vòng tay ra đón nhận khi tôi bơ vơ giữa cuộc đời rộng lớn này. Càng nghĩ, tôi càng thấy thương đứa nhỏ xã bên, lòng tôi thôi thúc ước muốn được bao bọc, chở che cho tâm hồn còn non nớt ấy. Tôi muốn mang đến một thế giới cổ tích để xoa dịu đi những mất mát đầu đời cho đứa nhỏ như ngoại đã từng làm đối với tôi. Hạnh phúc hơn khi chính Hưng là người ủng hộ, động viên tôi làm việc đó. Ngay sáng hôm sau chúng tôi vượt hai chục cây số đường rừng để tìm đến nhà đứa nhỏ mồ côi. Khi tôi đến nơi, nhìn ánh mắt buồn vời vợi của đứa nhỏ, khi ôm chặt nó vào lòng tôi bỗng bật khóc vì thấy nhớ đến quắt quay vòng tay của ngoại. Tôi thầm nhủ sẽ yêu thương và vun đắp tất cả những gì hạnh phúc nhất mà mình có thể cho con.
Một buổi sáng, trước khi đi làm, tôi soi vào mảnh gương bé xíu bên cửa sổ, không thấy còn cảm giác sợ hãi bên mắt màu trắng đục của mình. Tôi vẫn không khi nào thôi thương nhớ anh chị ruột của mình, anh giục tôi đi tìm họ giữa trời đất rộng dài. Tôi mang cả trái tim mình làm hành trang để kiếm tìm, có thể họ ở rất xa tôi cũng có thể mấy anh chị em tôi đã từng đi lướt qua nhau giữa đường đời. Tôi vẫn tin vào một ngày đoàn tụ không còn xa xôi nữa như tôi vẫn từng tin vào cổ tích. Cũng tại khu vườn này, ngoại vừa ngồi nhai trầu bỏm bẻm vừa chậm rãi gieo vào lòng đứa bé từng bất hạnh là tôi những thương yêu đẹp như cổ tích. Tôi cũng tin rằng buổi sáng hôm đó, khi người làng phát hiện ra bà ngồi tựa vào gốc cây, miệng tươi như đang cười chắc hẳn bà đã được thượng đế dẫn lên thiên đường, nơi của những linh hồn nhân hậu...

                                                       Vũ Thị Huyền Trang

Tuesday, September 11, 2012

Đợi ngâu...



Con gái ngày nào cũng tựa cửa sổ ngóng cha...

Tháng này là tháng ngâu, trời cứ mưa hoài thấu cả lòng người. Chị đi chợ mua đồ ăn cho cả tuần xếp đầy trong tủ lạnh. Nhà rộng, gió mưa càng thêm chống chếnh. Hai mẹ con ngồi nhà ngóng mưa và chờ đợi một niềm vui mong manh đang nhen nhóm thầm lặng trong lòng. Ngoài vườn, mấy hàng hoa tóc tiên gặp mưa càng thêm đằm thắm. Con hay đưa mắt dõi nhìn bầy chim sẻ về nhặt gạo tấm mà sáng nào chị cũng rắc ngoài đầu hiên. Thi thoảng con bật Tom và Jerry rồi ôm bụng cười khanh khách. Nhưng chắc tại nhà rộng quá nên nuốt chửng cả tiếng cười thơ ngây của con, vài ba bài hát về mùa thu của chị cũng lọt thỏm trong khoảng lặng ấy. Chỉ có nỗi cô đơn dường như cứ lan ra như từng vòng sóng, qua mỗi ngày ngâu mà không thấy anh về.
Anh dân công trình, chân đi như ngựa hoang mà lời hứa như gió thoảng. Cứ hứa miết mà đã hai năm nay chưa thấy anh về thăm hai mẹ con chị. Năm thì mười họa mới thấy anh gọi điện về nói anh đang ở chỗ này, chỗ kia. Hỏi thăm qua quýt vài câu rồi tắt máy. Con gái thấy ba gọi về thì đòi nói chuyện, anh chỉ ậm ừ rồi nói ba bận lắm chưa biết lúc nào mới về. Nghe xong cuộc cuộc điện thoại con gái ngồi ủ rũ cả ngày bên cửa sổ, Tom và Jerry cũng không thể khiến con cười. Chị bảo con:
-Tại công việc của bố bận quá đấy mà. Nhất định khi nào xong công trình này bố sẽ về thăm mẹ con mình.
Con ngước đôi mắt ngân ngấn nước nhìn chị hỏi:
-Có phải người cha nào cũng bận vậy không mẹ?
Chị ôm con vào lòng vỗ về nó bằng những lời ngụy biện của người lớn. Chẳng nhẽ lại nói với con về những hoài nghi cũng đang lớn dần trong lòng chị. Một năm có bốn mùa, mùa nào cũng có cái cớ để chị đợi chờ anh. Nào thì xuân ấm áp, chị đợi anh về ngắm thắt thẻo vườn hoa sau nhà đang kì đơm nụ. Nào thì mùa hạ, chị đợi anh về cắt đám tóc mọc dài che hết mắt con gái mà chị dỗ dành thế nào nó cũng không chịu ngồi yên cho chị cắt. Nó bảo đợi ba về. Chắc là con còn nhớ lắm mùa hè mấy năm trước được anh bế ra ngoài gốc cây khế cơm, rồi vừa cắt tóc vừa kể cho con nghe sự tích các loài cây trong vườn. Mùa thu hiu hiu gió, không cơn cớ gì chị cũng thấy nhớ anh. Nhất là những bữa cơm chiều, chị đã nghĩ giá như anh ở nhà chị sẽ chạy qua quán tạp hóa đầu ngõ mua cho anh chai rượu. Anh chỉ uống ít thôi mà cũng thi thoảng lắm mới uống. Nhưng bữa nào có ít cua rang hay rau sắn ngâm chua của ông bà ngoại gửi xuống thì anh bảo có rượu vào thêm đượm. Mùa đông… Chỉ nghĩ đến hai từ đấy thôi người ta đã cần đến nhau để ủ ấm cõi lòng cho những tháng ngày xa cách. Đấy là chưa kể trong bốn mùa còn thêm một mùa Chức Nữ gặp Ngưu Lang…
Khi con gái tám tuổi, sáng nào cũng bật vang bài hát “Mẹ ơi tại sao?” để nhún nhảy theo điệu nhạc. Con lẻn xuống bếp xem mẹ nấu bữa sáng rồi ú òa dọa mẹ. Thi thoảng còn bá vai bá cổ mẹ và hát líu lo“Mẹ ơi tại sao ba nói thương con, nhớ thương là gì vì sao hỡi mẹ?”. Bây giờ con gái chín tuổi, đã thích ngồi tựa cằm vào cửa sổ và thi thoảng ngước lên nhìn mẹ hỏi “Tại sao ba không về thăm hai mẹ con mình?”. Chị biết giờ thì con đã hiểu thế nào là nhớ thương. Chỉ buồn rằng khi con biết nhớ thương thì cũng là lúc con chịu nhiều thiếu thốn. Đến đón con mỗi chiều đi học về, thi thoảng chị thấy con đứng ngẩn người nhìn theo bóng dáng người cha nào đó đang nựng nịu con mình. Để rồi ngồi sau lưng mẹ con im lặng không nói gì. Chị biết là con đang rất nhớ ba…
                                             * * *
Chị làm giáo viên cấp III trường chuyên, quen rồi yêu anh kể từ khi cụm công nghiệp mọc lên trong thị xã. Anh không giấu chị về lịch sử tình trường dày dặn của mình, bởi khi đã yêu rồi thì chị cũng chẳng mấy bận tâm những chuyện đã qua. Đã có lúc ngồi đắm đuối nhìn chị ru con bên cửa sổ, anh phải thốt lên:
-Không biết em có sức hút kì lạ gì mà lại níu được vó ngựa hoang này lâu đến vậy?
Chị thơm lên má con, nựng nịu:
-Ba Hùng không thoát nổi mẹ đâu. Bây giờ còn có con gái thay mẹ níu chân ba lại đất này rồi nhé!
Ấy thế mà cụm công nghiệp xây xong chưa được bao lâu anh lại đi. Chị xin nghỉ dạy ở nhà chăm sóc con bằng sự chu cấp đều đặn hàng tháng của anh. Ngay cả khi để anh đi, chị không nghĩ rằng mình rồi sẽ mất anh như thế. Bởi chị tin rằng mình đã có đủ khéo léo để gắn kết với anh bằng một đám cưới, một ngôi nhà và một thiên thần nhỏ- điều mà bao người phụ nữ khác không làm được. Thì chẳng có lý do gì để anh tự rời bỏ gia đình nhỏ này hoặc một người phụ nữ nào có thể cướp anh từ tay chị được. Ấy vậy mà…
Hôm rồi nghe mấy cô bạn xúi đi xem bói tay, chị tìm đến một bà thầy nằm sâu trong xóm núi. Vừa nhìn thấy chị bà thầy đã lắc đầu bảo “hồng nhan chi cho bạc phận”. Lời bà thầy cứ ong ong váng vất bên tai, bà nói rất nhiều nhưng tâm trí chị đã dừng lại ở mấy từ “chồng cô đã có vợ bé rồi”. Lúc thẫn thờ ngồi đợi bạn, chị thấy một người đàn bà khác bưng mâm lễ đến cầu xin thần linh dẫn đường chỉ lối cho chồng biết đường tìm về. Không biết bao nhiêu con mắt đổ dồn vào người đàn bà ấy. Người thì thương xót cảm thông, người thì bảo sao chồng nó ruồng rẫy mình rồi còn tìm nó làm chi. Cái ngữ đàn ông ấy bán ba đồng không đắt. Chị nghe mà tưởng bấy nhiêu lời đàm tiếu của người dưng đang chĩa thẳng, xát muối vào lòng chị. Trước đây chị chẳng bao giờ tin vào mấy trò bói toán, nhưng dường như khi con người ta chênh vênh nhất thì cần phải có một nơi để bấu víu mà hy vọng. Nhưng ngay cả nơi bấu víu cuối cùng của chị giờ cũng đã vỡ vụn. Sự thật này chị đã linh cảm thấy từ rất lâu rồi…
Giữa tháng ngâu, tình cờ có một người đàn ông tên Quang ghé thăm nhà chị. Quang nhìn quanh nhà, dừng ánh mắt trìu mến nhìn con gái chị đang loay hoay để hoàn tất bức tranh ghép hình một ngôi trường. Quang hỏi mẹ con chị sống có ổn không? Chỉ có hai mẹ con lúc khỏe thì không sao chứ lúc ốm đau biết tính thế nào? Quang xăm xăm kiếm tấm gỗ vứt ở một góc vườn đóng thành cái bệ dắt xe cho chị đặt trước hiên nhà. Quang càm ràm  bậc hè cao thế này sức đâu mà dắt được cái xe cồng kềnh thế. Quang lôi chiếc xe đạp mi ni của con gái chị ra sửa cho đến khi nó quay đều kêu ro ro mới thong thả đứng dậy. Chị tựa cửa nhìn Quang làm mọi việc mà lòng thắt lại. Quang làm chị nhớ đến bóng dáng anh. Quang khiến thứ linh cảm đàn bà mà chị đã cố vỗ về để ngủ yên thì giờ trỗi dậy. Chị nhìn Quang dò hỏi:
-Có phải Quang vừa từ chỗ chồng tôi đến không?
Thoáng chút bất ngờ, Quang cúi mặt tránh ánh nhìn sũng buồn của chị:
-Anh ấy nhờ em nói với chị là… đừng đợi anh ấy nữa.
Chị khẽ mỉm cười, nhắc con gái lên phòng học bài và mời Quang ở lại dùng cơm với hai mẹ con chị. Cơm nấu cũng nhanh thôi, toàn món đơn giản mà chị cũng đã chuẩn bị hết rồi chỉ việc bắc nồi nấu nhoáng cái là xong. Nhưng Quang đã chối từ, lẳng lặng ra về. Chị nhìn theo bóng Quang mà nghĩ cũng may là Quang về, chứ nếu ở lại dùng cơm cùng mẹ con chị biết đâu chị sẽ không kiềm chế được lòng mình mà bật khóc. Từ nãy đến giờ đứng nói chuyện với Quang chị không để ý thấy năm đầu ngón tay mình bấu vào cửa chặt đến tím tái. Có thế mới không ngã quỵ trước những lời Quang nói. Ừ thì thôi không đợi nữa. Nhưng ít ra anh cũng nên tự mình nói ra những điều đó với chị. Chị nghĩ rồi lại cười, nhưng nước mắt thì chảy đầm đìa hai gò má…
                                            * * *
Chị đã quyết định xin đi dạy trở lại trong một trường gần nhà để tiện việc đưa đón, chăm sóc con gái. Làm sao để nói với con rằng gia đình ta bây giờ chỉ còn có hai người “mẹ và con”. Làm thế nào để nói cho con như chị đã từng nói với chính lòng mình rằng từ nay sẽ thôi không chờ đợi nữa. Chị chỉ biết cố gắng bù đắp cho con bằng tất cả tình yêu thương mà chị có. Con đã thôi không còn hỏi chị bao giờ thì ba về? Cũng đã thôi đứng ngẩn ngơ ở cổng trường ngóng theo cha con người khác. Bỗng một tối hai mẹ còn nằm ôm nhau chơi trò chơi “mắt, mũi, mồm” con đột nhiên hỏi chị:
-Mẹ có buồn nhiều không?
Khi đó con đã tròn mười tuổi. Con đã biết thế nào là buồn vui mà không phải từ mấy lời giải thích qua loa của chị. Ôm chặt con vào lòng, chị nói như tự vỗ về mình:
-Chỉ cần có con gái ở bên. Mẹ sẽ không buồn nữa.
-Con hứa con sẽ ngoan!- Con thủ thỉ rồi rúc sâu vào lòng chị như con mèo bông béo nhỏ. Chị nghĩ… thế là hết một mùa ngâu…
 Trời vào thu trong trẻo và se lạnh. Chị bắt đầu bận rộn hơn với các trang giáo án, với nhất quỷ nhì ma, với đứa con gái nhỏ mỗi năm ý nghĩ cũng lớn dần lên. Để nhà bớt rộng chị mua thêm chú chó nhỏ và vài mái gà. Để buổi trưa nghe gà mẹ cục con bới mồi cũng thấy vui vui. Con gái cũng bắt đầu hay xin phép mẹ cho đi chơi với các bạn cùng xóm. Thi thoảng trở về lấm lem bùn đất hay ướt lướt thướt mưa rào. Tiếng người mẹ mắng yêu con, tiếng con gái cười ròn tan, tiếng chú cún nhỏ chạy khắp sân vờn cái đuôi của chính mình… Tất cả khiến nỗi buồn khi thiếu một người đàn ông đã dần vơi. Chị ngồi tính sẽ trồng thêm mấy dãy rau xanh sau nhà, toàn là loại rau mà con gái thích. Con gái ngồi lật giở cuốn tạp chí thấy có mấy mẫu váy bồng bềnh in họa tiết hoa đẹp quá thì thủ thỉ “sau này con nhất định sẽ làm nhà thiết kế thời trang để may váy cho mẹ mặc”. Chị cười…
Nắng đã ấm mái hiên lòng hai mẹ con chị, kể từ khi không còn đợi chờ mùa ngâu nữa…

Vũ Thị Huyền Trang

Sunday, September 9, 2012

Khu vườn. Bức tranh và những đôi mắt…




Chị lại nhốt mình trong phòng tranh của con gái và ngắm nhìn những đôi mắt đang căng cựa.

                        “Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp
                         Giấc mơ con đè nát cuộc đời con…”
                                                            -Chế Lan Viên-
Chị ngồi vẹo cổ ngắm nắng qua ô cửa sổ. Cái dáng ngồi thất thểu đến tội nghiệp ấy không làm cho mấy vạt nắng vàng đang nhảy nhót ngoài kia bớt lung linh. Chỉ có điều mảnh vườn nhỏ quá, nó chỉ bằng một thẻo đất nhỏ mà ở quê người ta vẫn thường chừa lại làm lề. Thế mà chị cố trồng được đủ thứ, hai dãy hoa sen cạn chạy dài, một giàn hoa tầm xuân leo kín tường, một cây ớt lúc nào cũng sai quả lúc lỉu để bố chồng ngâm măng. Riêng phần của mẹ chồng là mấy cây đinh lăng, vài ba bụi cối xay, cỏ sữa, cam thảo đất. Toàn mấy thứ thảo mộc chị lấy tận quê ngoại xuống để mùa hè bứt cành phơi uống nước cho hạ nhiệt. Vậy thôi cũng đã chật cứng cả vườn, chật đến mức muốn đi hái thứ gì là phải lách nghiêng chân để tránh dẫm vào cây cỏ. Thế mà mấy hôm nọ chồng chị mua về cả đống hạt rau diếp cá, xà nách, húng chó, tía tô... Anh bảo trồng lấy một khoanh để mỗi bữa có rau sống mà ăn. Anh nhìn một lượt khu vườn, chỉ đúng chỗ hai hàng hoa sen cạn rồi bảo “hoa hoét làm gì, có ăn được đâu”. Nói xong phăng phăng nhổ hết hoa của chị và gieo hạt rau xuống đó. Đấy là cái lí do của mấy ngày hôm nay chị hay ngồi nghển cổ nhìn ra mảnh vườn tiếc nuối…
Chị đang ngồi ước giá mà lòng chị cũng nhảy nhót reo vui được như những tia nắng kia, thì tiếng chuông điện thoại bàn đổ dồn khiến chị giật mình vỡ vụn dòng suy nghĩ. Ở đầu dây bên kia anh dặn gọn lỏn vài từ “Anh bận. Không về ăn cơm đâu” rồi cúp máy. Chị thở dài nghĩ ngợi, con thì đứa đi du học đứa về quê ngoại nghỉ hè, chồng thì đi nhậu nhẹt vậy còn nấu nướng làm gì cho mệt, chị thì ăn linh tinh gì chả được. À! Phải nấu chứ, không nấu lấy gì cho con mèo lười ăn, tính nó rất quái bữa nào cũng phải có cơm trộn cá. Mà phải là cơm nóng, chứ mấy hạt cơm nguội khô là nó ngoảnh mông đi một mạch không thèm đắn đo. Có nhiều hôm thấy chị vắng chồng con ngồi nhai cơm nguội một mình bị nghẹn nấc nên nấc xuống. Nó ngồi chễm chuệ trên cửa sổ kêu ngoeo ngoeo ý bảo “đấy bà chủ thấy chưa, cơm khô khốc thế đến bà còn nuốt không nổi cớ sao bắt tôi ăn”. Chị lườm lườm nó trách “mày thì làm được cái gì, chuột thì không có để bắt, suốt ngày chỉ kêu đòi ăn luốn cuốn vướng chân”. Nhưng mà nếu không có nó bầu bạn, chắc chị sẽ héo rũ trong mùa hè này mất.
Lúc chẳng có việc gì làm, chị mang những bức tranh của đứa con gái lớn ra sắp xếp lại. Nếu chị không động tay vào chúng thì bụi sẽ phủ mờ, bụi còn sẵn sàng nhấn chìm cả phòng vẽ trên tầng bốn. Từ khi nó đi du học, căn nhà này như tắt hẳn một mảng màu rực rỡ, màu của tuổi trẻ. Chị ngồi nhớ khi nó còn ở nhà, nó thường diện đồ rộng thùng thình, cắt tóc ngắn như con trai, miệng cười tươi như hoa và trốn nhà đi bụi như cơm bữa. Chả cần son phấn, mascara cũng chẳng cần nề hà phép tắc, chị cảm tưởng con bé cứ sống hồn nhiên bản năng như cây cỏ. Gặp gió thì lay, gặp mưa thì mát, gặp nắng thì trổ hoa ngông nghênh, thách thức. Ấy vậy mà chính chị lúc nào cũng mong muốn uốn nắn, bẻ cong cái mầm xanh mơn mởn ấy giống như người ta uốn bờ rào, cây cảnh để mãn nhãn người đời. Cuối cùng thì được gì? Con bé căng cựa vuột xa vòng tay chị. Thời gian đầu chị đã từng rất đau khổ vì nghĩ mình đẻ con ra mà mất con, đến ngay cả tâm tính nó thế nào chị cũng không nắm bắt được. Nhưng bây giờ mỗi khi ngồi một mình trên phòng vẽ của con, chị lại nở một nụ cười pha lẫn chút tiếc nuối xót xa. Chị mừng vì nó ít ra đã dám sống thật với bản thân mình. Hơn chị của ngày xưa…
                                             * * *
Chị ngày xưa từ quê lên phố học. Bươn trải trầy trật mới tồn tại vất vưởng ở thành phố này. Giống như hầu hết những đứa con gái tỉnh lẻ khác, chị mơ ước được ở lại thành phố này. Không hẳn vì chị thích sự năng động nơi đây, nói đúng hơn là chị đã mệt nhoài. Nhưng chị sợ cảm giác bị thất bại khi phải lủi thủi về quê. Sợ sẽ chìm đắm trong những ngày dài ở quê chờ việc. Sợ nỗi ám ảnh nghèo đói, vất vả của đời chị sẽ kéo dài cho đời con cái sau này nếu cứ bám lấy miền quê khốn khó. Chị bắt đầu kiếm tìm mọi cơ hội cho mình, giống như đi tìm một tấm vé thông hành để trở thành người thành phố. Ước mơ của những đứa con gái tỉnh lẻ lúc ấy chỉ có thế. Nó mãnh liệt hơn tất thảy mọi nhu cầu. Nó vùi lấp những mơ ước cao đẹp khác. Dù cho không ít người có miễn cưỡng phủ nhận nó nhưng vẫn cứ lao vào cuộc kiếm tìm điên cuồng trong cái vẻ thản nhiên thường thấy.
Chị đẹp. Đàn ông theo chị nhiều, giàu sang hay nghèo hèn đều có, trai tỉnh lẻ hay trai Hà Nội cũng đủ cả. Sẽ là dễ dàng có được tấm vé thông hành làm công dân thành phố lâu dài nếu như trái tim chị lại không chót yêu một chàng trai nghèo tỉnh lẻ. Sự đời vốn cứ thích chéo ngoe như thế mới đủ thử thách con tim. Mới có một ngày như hôm nay chị ngồi đây mà tiếc nuối. Suy cho cùng chị cũng giống như con nhện sống ba nghìn năm trước cửa miếu Phật bà Quan Âm(*). Hàng ngày ngập trong khói hương và những lời cầu khấn  vẫn chỉ ngộ ra rằng ở đời thứ quý giá nhất là thứ không có được và thứ đã mất đi. Dù sau đó khi nhện được phật cho vào sống cõi người dưới thân xác Châu Nhi. Để rồi trải qua nhiều buồn đau cuối cùng đã nhận ra thứ quý giá nhất chính là hạnh phúc hiện đang nắm giữ chứ không phải là thứ không có được và thứ đã mất đi. Còn chị chắc kiếp trước tu chưa thành tâm nên kiếp này vẫn chỉ tiếc giọt sương từng đến bên đời mình rồi rơi vỡ mất. Hình như ai trong chúng ta cũng vậy thôi, mỗi người mang giấc mơ về một giọt sương đã được cơn gió Trường Phong mang đến rồi mang đi sau khi lỡ gieo vào lòng ta giấc mơ lấp lánh màu hạnh phúc. Thế nên chị cứ nhớ mãi về người đàn ông đó, người mà chị đã từng yêu.
…Người từng vẽ lên trong kí ức chị một giấc mơ bình yên ấy là Phương. Phương từng bảo:
-Chúng ta sẽ hạnh phúc trong một ngôi nhà nhỏ có khu vườn rất rộng. Đất đai quê anh trù phú lắm, cánh đồng và gió trời, tiếng chim và hương hoa. Nơi đó em cứ việc trồng thật nhiều loài hoa mà em thích, một vài cây vú sữa cho các con và thật nhiều vị thuốc. Em ở nhà viết văn chờ anh sau mỗi chuyến chở hàng về là ngôi nhà lại tràn ngập tiếng cười. Nên hãy theo anh về quê đừng bon chen chốn đô thành này không hợp với em đâu.
Chị coi đó là một lời cầu hôn nhưng đã bị chối từ dù anh đã vẽ ra một thế giới bình yên chị đã từng ước mơ trong thẳm sâu ý nghĩ. Chị chối từ vì chị sợ những giấc mơ đẹp đẽ quá thường không thành hiện thực. Nhất là khi nghề lái xe đường dài của anh với bao nhiêu trắc trở sao có thể trở thành bến đỗ bình yên của chị. Chưa kể về trình độ học vấn và hoàn cảnh gia đình Phương cũng thua kém chị nhiều. Chị yêu Phương thật lòng nhưng chị cần một người đàn ông giỏi giang hơn mình mới có thể chở che cho chị cả cuộc đời. Phương đã xoáy vào lòng tự ái thẳm sâu trong chị khi nói rằng thành phố này không phải là nơi dành cho chị. Chị sợ cảm giác thất bại. Phải rời bỏ một nơi nào đó trong hối tiếc cũng là một thất bại. Vì thế chị đã chọn Phan để là người bám trụ lại Hà Nội duy nhất trong số đám bạn thân hồi đại học. Chiếc vé thông hành đã có, chị quay cuồng nửa đời người ở đất này ngoảnh lại thấy cô đơn một cõi…
Xót xa tìm thương nhớ tuổi đôi mươi…
                                         * * *
Chị ngồi lau bụi trên từng bức ảnh của con. Mỗi vệt lau lại hiện ra một mảng màu mơ ước. Bức tranh nào cũng ẩn hiện một cánh cửa, cánh cửa đó bị đóng kín nhốt chặt một đôi mắt đang hừng hực lửa như muốn thiêu đốt tất cả. Chị có cảm giác như có cái gì đó tức tưởi, muốn căng cựa, giãy giụa để trốn thoát sự kìm hãm, tù túng. Chị nhìn rất kĩ từng bức tranh, trái tim chị đau buốt khi nghĩ về những ngày dài nhốt chặt con trong phòng vẽ. Chị giả vờ như không nghe thấy tiếng đập cửa, tiếng gào khóc van xin của con. Chị chỉ nghe thấy sự hả hê trong trái tim một người mẹ đã từng bất lực về đứa con ngang bướng. Những ngày sau con hoàn toàn câm lặng. Dù cho chị hoảng sợ đã mở toang cánh cửa thì con vẫn ngồi đó không bước chân ra thế giới bên ngoài. Chỉ sống nhờ thùng mì tôm, nước lọc và một cái nhà vệ sinh khép kín. Lúc nào chị bước vào cũng thấy con cặm cụi vẽ. Những cánh cửa và đôi mắt, chớp mi tựa mặt hồ thu…
Chị thích tất cả những bức tranh con vẽ như thể con bé không chỉ vẽ cho nó mà vẽ cho cả sự tù túng trong cuộc đời của chị. Chị đã sống quá nhiều cho lý trí. Giống như một cỗ máy luôn được nâng cấp, lập trình những thứ hiện đại nhất. Cuộc đời đã nhấn nút, cỗ máy cứ thế mà hoạt động. Người máy thì không có trái tim. Còn chị thì dường như đã đánh rơi trái tim mình ở đâu đó khi mang lời cầu hôn của một người đàn ông thả lên trời. Chị giờ ngồi đây tưởng tượng ra khu vườn thật rộng, chị ngồi đọc sách trên một chiếc xích đu màu trắng. Dưới tán cây râm mát chim chóc hót véo von, vào mùa thu lá vàng phủ đầy lối đi, phủ êm đềm những giấc trưa không mộng mị. Chị sẽ viết những câu thơ mang đôi cánh của gió, mang màu sắc của hoa và tiếng nói cất lên từ tâm hồn chân thật nhất.
Ở mảnh vườn như thẻo đất thừa này hàng ngày chị nhìn những loài cây chen chúc nhau để đón ánh nắng, để mọc chồi, đơm bông. Khi chị ngồi bên cửa sổ đọc sách, những câu chữ như cũng đang căng cựa muốn nhảy bung khỏi trang giấy đóng khung. Mọi thứ đều trở lên ngột ngạt và nhễ nhượi. Thằng nhỏ nhà chị chỉ mong nhanh đến hè là ra tàu về quê ngoại để tránh lịch học hè dày đặc. Để được theo ngoại đắp mương tát tép, được lẽo đẽo theo thằng em con nhà chú đi thả diều trên núi, được lùi lụt ngô khoai nhem nhuốc những ngày hè. Mỗi lần con từ quê điện lên, chị nghe thấy trong tiếng cười vô tư lự của con dường như có chút tiếc nuối vu vơ của chị. Con bảo:
-Dạo này chiều nào ngoại cũng phải lên núi tìm con. Cứ thả diều một lúc thấy gió thổi mát rượi là nằm xuống ngủ quên lúc nào không biết. Con biết chỗ nào ngày xưa mẹ hay mang ngô lên nướng, biết cả chỗ mẹ ngồi trú mưa những hôm đi chăn trâu. Bây giờ cái hốc đá đó mọc lên toàn nấm, nấm gì hay lắm mẹ ạ, có rất nhiều màu sắc.
Chị nghe con kể mà muốn trốn phố về quê. Muốn bỏ lại căn nhà bốn tầng lúc nào cũng thấy thiếu tiếng người. Chồng chị đi công tác suốt ngày, đôi khi chẳng phải vì công việc anh cũng vui thú bạn bè ở một miệt vườn xa lắc lơ nào đó. Hình như trong nhà chị ai cũng chán phố nên bỏ lại ngôi nhà này cho chị trông nom. Chiều nay đứa bạn thân điện hỏi thăm, sau tràng cười giòn tan, sau câu chuyện công việc chồng con, bạn không quên hỏi chị một câu đau đến điếng lòng:
-Thế nào, làm người thành phố có thấy thích không?
Chị bỗng tắt nụ cười, mắt rơm rớm bảo:
-Dạo này chưa gì đã mắc bệnh tuổi già. Ngày nào cũng chỉ ngồi nhớ cố hương thôi.
Bạn lại bảo:
-Mình chuyển về đây công tác đã chục năm rồi, gấp đôi cả quãng thời gian đã sống ở dưới đó. Vậy mà thi thoảng vẫn nhớ phố đến cồn cào nữa là…
-Vậy hóa ra chúng ta thiếu cái gì thì nhớ cái đấy à?
-Cũng có thể là vì ai cũng cần phải có một cái gì đó để tiếc nuối, nhớ nhung. Nỗi nhớ cũng giống như một món đồ trang sức càng đẹp thì càng đắt. Đời ảo nhỉ?
Chị cười bảo bạn dạo này học đâu cái thói ưa triết lý. Ở đầu dây bên kia không thấy có tiếng cười. Nắng bên này cũng tắt. Con mèo nằm quận tròn trên cửa sổ lim dim mắt. Chị lại nhốt mình trong phòng tranh của con gái và ngắm nhìn những đôi mắt đang căng cựa.
Vũ Thị Huyền Trang

 

Friday, September 7, 2012

Pakistan và ngõ nhỏ...

Những đứa trẻ pakistan
Hình ảnh những đứa trẻ con nằm la liệt, ruồi muỗi bu đầy, trên miệng ngậm chặt bình sữa không trong những căn lều tạm ở một ngôi làng thuộc tình punjab, Pakistan đã khiến hàng triệu triệu trái tim trên khắp thế giới nhói lòng. Tôi chợt rùng mình, nhắm chặt mắt trước hình ảnh bé gái hai tuổi bị tiêu chảy cấp nằm li bì trong khi cả hai lỗ mũi, hai khóe mắt và miệng ruồi đều bu kín. Cái cảm giác thương xót và ghê sợ cứ hòa vào làm một. Hình ảnh ấy như ám ảnh trong đầu óc tôi. Ám ảnh đến muốn nổ bung đầu.
Phương mở cửa phòng trọ. Mùi “nước hoa mỹ” từ nhà nuôi chó của bà chủ sộc sang đến lợm giọng. Nó đóng sập cánh cửa và lao đầu vào chăn “tự tử”. Một lúc sau Phương mới ngẩng lên nhìn tôi bảo:
-Chị ơi bả chuột bán ở đâu ý nhỉ?
Tôi phì cười:
-Toàn thuốc dởm thôi, chó đực ăn vào lại sinh năm đẻ bảy ra thì biết tính sao.
Nó lại lao đầu vào chăn i ỉ khóc hờ. Tôi bỗng mường tượng ra việc sáng sớm mai, khi tôi chưa kịp thức giấc thì đã thấy loa của bà bán báo rong rao lên inh ỏi: “Ai mua báo nào… ai mua báo đi… con dể giết mẹ vợ trộm vàng, ông lão tám mươi thất tình nhảy lầu tự tử, hai con chó nhà bà X tự nhiên lăn ra chết chưa xác định rõ nguyên nhân… Ai mua báo nào…ai mua báo đi…”. Nếu mà như thế thật chắc là tôi sẽ phải rác tai vì bà chủ lắm. Nghĩ đi nghĩ lại thì thà ngửi nước hoa Mỹ còn hơn.
Xóm nhỏ rất nghèo. Xóm của những người lao động tứ phương đổ về Hà Nội kiếm kế sinh nhai. Rồi tối tối lại kéo về xóm trọ tồi tàn ngả lưng, nhắm mắt sau khi đã nuốt khan cái bánh mỳ ỉu xìu mua rẻ của các bà bán bánh mỳ pa tê đầu ngõ. Tôi vẫn thường ngửi thấy mùi bánh mỳ, mùi mồ hôi và nghe thấy tiếng ngáy nặng nhọc phả ra từ xóm trọ. Căn phòng tôi ngay gần đấy. Nghèo và buồn. Hôi và chật chội. Sáng nào thức dậy cũng phải suy nghĩ xem có nên sống tiếp hay không. Có thể khi đọc đến những dòng chữ này mọi người sẽ nghĩ tôi còn trẻ mà tiêu cực. Xin thưa rằng tuổi trẻ lắm hoài bão thật nhưng cũng dễ gục lòng trước một thực tại tồi tàn và một tương lai mù mịt. Tôi là một trong số đó.

                                         * * *

Lúc nhỏ, mẹ thường bảo tôi:
-Con phải đi hái rau dại mà ăn, chúng ta sắp chết đói đến nơi rồi.
Tôi hỏi:
-Khi nào thì chúng ta sẽ chết.
Mẹ bảo:
-Khi nào chúng ta cứ ngồi một chỗ mà chờ đợi.
Thế là từ hôm ấy tôi biết đi qua mấy cánh đồng hái loài rau dại về ăn trừ bữa. Cái đói những năm đầu thập niên 90 thật là kinh khủng. Tôi cứ nghĩ tất cả chúng tôi sẽ chết, không vì đói thì cũng vì bệnh tật. Ngày ấy trẻ con chết rất nhiều. Có những quả đồi chỉ dành để chôn lũ trẻ.
Đã có lúc tôi cứ tự chất vấn mình rằng không biết tôi sống sót là vì cái gì? Vì những ngọn rau dại còn sót lại ngoài đồng hắc xịt và đắng ngắt. Hay vì những giấc mơ, những bữa đại tiệc trong thế giới mộng tưởng đã cứu giúp tôi? Cái đùi gà vàng suộm, cái bánh rán ngọt lịm đường, nồi cơm gạo trắng bong, vài ba con cá mắm rán vàng… Tất tần tật những thứ đã làm tôi no nê trong giấc mơ ảo tưởng sau cơn đói mệt lả người. Tôi không biết bố mẹ, anh trai và em út có được gặp giấc mơ vừa tốt đẹp vừa cay nghiệt ấy không. Nhưng một buổi sáng nào đó trong cuộc đời, khi tỉnh dậy tôi nhận ra dưới chỗ thằng út nằm ướt đẫm nước miếng. Để rồi tôi đau xót nhận ra rằng chúng tôi là những người khốn khổ.
-Chị ơi! Bao giờ thì chúng ta hết đói?
-Khi nào à? Chị cũng không biết nữa. Nhưng mẹ bảo chúng ta không được nằm chờ.
Trong thứ ánh sáng âm u của buổi chiều tàn, tiếng bà mẹ nào hờ khóc đứa con thơ vừa nằm lại trên quả đồi hoang, tiếng tắc kè não nề, tiếng bước chân người đói nhẹ như bâng… Tất cả tạo nên một không khí buồn thảm, phả vào trời chiều nỗi ám ảnh không khi nào phai nhạt. Tôi ngoảng sang, thấy giọt nước mắt lăn tròn trên gò má gầy xọp của út. Chúng tôi nằm thẳng cẳng, ngửa mặt lên trời, để mặc cho sương xuống ướt đẫm. Mẹ đi nấu nồi cháo sắn loãng, bà cụ hàng xóm sang xin một hớp. Con cộc, con chó gầy guộc đến khốn khổ ghếch mõm lên chờ đợi nhưng dường như nó cũng hiểu rằng trong cái thời buổi kề cận địa đàng này sẽ chẳng ai sơ ý để rơi một giọt cháo nào cho nó. Nên con cộc phủ phục xuống đất, nó thở không ra hơi, thi thoảng cố gắng lắm nó mới mở mắt ngước nhìn mọi người. Làng xóm bảo mổ chó mà ăn, để làm gì. Bố tôi ngồi tựa vào tường bảo:
-Tôi không còn đủ sức để hóa kiếp cho bất cứ con vật nào.
Rồi ôm con cộc khóc. Ba ngày sau nó chết. Nhà không ai còn đủ sức rơi  một giọt nước mắt nào khóc thương nó cả. Còn bây giờ trong đầu óc tôi vẫn là những đứa trẻ Pakistan nằm la liệt trong các lều tạm bợ, ruồi muỗi bu đầy mặt mũi, trên miệng ngậm chặt bình sữa không. Chập chờn trong dòng chảy kí ức tôi thấy mình đang nằm giữa những đứa trẻ ấy, trên tay vẫn còn ngậm loài rau dại mang tên Cu sếu. Đến tận bây giờ tôi mới biết loài rau ấy thật đắng. Đắng như nước mắt người đời.
Xóm trọ nhỏ, hơi thở của những người lao động lại phả vào đêm. Tôi im nghe như nuốt từng nhịp một. Đã có lúc tôi phát hiện ra trong sự yên ắng đến tĩnh lặng của đêm có giọt nước mắt của người đàn bà nào đó trong xóm lao động đang lăn xuống rất lặng thầm.

                                         * * *
Hàng loạt tin tức mới về Pakistan được đưa lên các trang báo mạng. Hình ảnh người đàn ông ngồi khóc trên mộ những đứa trẻ sinh ra, chưa kịp lớn lên để cảm nhận và thương yêu cuộc đời đã gặp phải mùa bão lũ. Đói và bệnh tật. Cái vô hạn và hữu hạn. Mà sự sống thì luôn mỏng manh như một mảng khói chiều. Phương bảo tôi đọc chi mấy tin tức ấy mà buồn, biết rồi cũng có giúp được gì đâu. Pakistan là một cái đất nước ở tận đẩu tận đâu, biết đến cuối đời cũng có đặt chân được đến? Biết rồi chỉ để làm cho một tâm hồn ở cách xa đất nước nghèo nàn, khốn khổ ấy mấy nghìn dặm thêm  phần ám ảnh. Sự ám ảnh đâu phải là lúc nào cũng làm con người ta tốt lên đâu. Đôi khi nó hủy hoại tâm hồn ta lúc nào không biết. Lúc Phương nói thế, tôi thấy nó lại đâm đầu vào gối như khi ngửi thấy mùi “nước hoa Mỹ” từ chuồng chó nhà bà chủ bay vào. 
Phương rất hồn nhiên. Một ngày miệng nó có thể nói đi tự tử cả trăm lần nhưng đời vẫn vui phơi phới. Miệng nó thì nói “tiền chẳng là cái đinh gỉ gì” nhưng ngay lúc đó sẵn sàng mặc cả với người bán hàng rong từng trăm con một cho đến lúc không thể mặc cả được thì mới thôi. Nó có thể nói “bọn con trai là một lũ đểu” nhưng ngay lúc đấy cái điện thoại mà sáng lên một cái tên “anh X” nào đó gọi đến là nó reo vui như trẻ nhỏ nhận quà từ tay mẹ. Hết thảy mọi thứ trong cuộc sống này đều khiến nó vui mà cũng có thể khiến nó buồn chốc lát. Ai đó đã từng bảo nó sống hời hợt nhưng tôi không nghĩ vậy, bởi tôi nhớ có một hôm nào đó, vào một buổi chiều mùa đông tôi cảm giác như không chịu nổi sự buồn bã, lạnh lẽo của xóm trọ nghèo. Tôi đã rủ nó ra đi nhưng nó lắc đầu bảo sẽ nhớ nơi này lắm.
Nó thích giàu, đó cũng là cái lẽ thường tình của loài người. Nhưng thèm giàu như nó thì không phải ai cũng vậy. Tiêu chuẩn người yêu của nó không chỉ là đẹp trai mà phải là con nhà giàu như bọn choai choai vẫn gọi “nhà mặt phố, bố làm quan”, nếu không thì nghỉ nhé. Cái mong muốn được đổi đời, được sống trong một giai cấp khác, phải chăng để mong muốn gột sạch cái kí ức tối tăm, nghèo khổ? Thi thoảng tôi vẫn thường bị đánh thức bởi giấc mơ của nó. Không nói mê sảng, chỉ là những tiếng nấc khan rồi cuối cùng nước mắt chảy đầm đìa trên gò má. Tôi nhận ra một khoảng sâu thẳm trong Phương, cái khoảng lặng luôn được giấu kín trong sự hồn nhiên mỗi sáng.
Phương giống tôi ở chỗ, mỗi buổi chiều sau khi đã ngập tràn trong công việc và toan tính, nó ngồi lại bên ô cửa nhỏ thầm lặng nhìn những con người lầm lũi, những tiếng rao lầm lũi, những khuôn mặt cúi gằm như chỉ sợ mỗi bước chân là mỗi bước vấp ngã. Đôi khi tôi và nó cùng thở đài. Buồn rất buồn.

                                         * * *
Không hiểu sao từ khi tôi đọc những dòng tin đầu tiên về Pakistan, sáng nào tỉnh giấc tôi cũng giật mình mở ngay laptop để xem tin tức. Giống như những ngày miền Trung gặp bão, rất nhiều người Hà Nội thắc thỏm chẳng yên. Tôi đã từng gặp những bà cụ già lên chùa không cầu bất cứ thứ gì cho bản thân và gia đình mà chỉ cầu duy nhất cho khúc ruột miền Trung bão mau tan. Những em bé tần ngần trước quán quà sáng để rồi bước đi, để dành vài nghìn đến lớp bỏ vào quỹ gửi đến miền Trung. Ai gặp nhau lạ mấy nhưng hễ thấy nói về miền Trung là đỗ lại hỏi thăm tin tức mới, để rồi lại cúi mặt đi.
Phố nhỏ của tôi có rất nhiều người dân lao động từ dải đất miền Trung ra thành phố bươn trải. Chúng tôi thường gặp nhau ở chợ cóc cuối ngõ, họ hay mua đậu của bác thương binh, hay mua rau của bà cụ già. Mỗi thứ một ít, không bao giờ mặc cả vì hình như tất cả họ, người bán và người mua đều cám được cái cảnh ngộ khốn khổ của nhau. Không ai lỡ bán đắt cũng không ai muốn trả rẻ hơn. Họ hay đi chợ muộn, khi chợ đã tàn, rau dưa còn ế. Phương bảo:
-Sống như họ thì chán nhỉ! Đời chả biết hưởng thụ gì.
Tôi biết sau câu nói ấy mắt cả hai đứa đều cay.  Tôi bảo Phương:
-Tin không, trong số họ, thể nào cũng có người đi buôn đồng nát, đi đập tường thuê mà nuôi mấy đứa con đi học Đại học đấy. Đừng khinh họ.
Phương bảo:
-Tin. Tin chứ. Nhưng tin để làm gì. Học hành rồi có đi đến một cuộc sống tốt đẹp không? Như em. Như chị. Như bao nhiêu đứa đầy năng lực vẫn thất nghiệp dài dài.
Tôi bảo:
-Mỗi người sống có một mục đích riêng.
Nó vặc lại:
-Nhưng không phải là những mục đích mù quáng.
-Thế cứ kiếm chồng giàu như em thì mới là sáng suốt à?
Nó bảo “thôi không cãi nhau nữa” rồi lại lao đầu vào chăn.
Khi chúng tôi ngồi cãi nhau về mục đích sống trên đời, về sự giàu nghèo thì ở Pakistan người dân vật vờ vì cái đói. Có biết bao đứa trẻ suốt một ngày dài thoi thóp chờ đợi mà không một hạt cơm, không một giọt sữa và không một tia hy vọng. Bên xóm trọ của những người lao động, mùi canh đậu lại bốc lên. Phương bảo mỗi lần ngửi thấy mùi canh đậu là lại thấy buồn nôn. Tôi khẽ buốt lòng. Nhớ ngày xưa, lúc còn bé xíu, bà bán bã đậu đi qua ngõ rao hai trăm một bát loa đầy mà ngước lên nhìn mẹ chỉ nhận được cái lắc đầu. Nhà nghèo nên giấc mơ về bát bã đậu đầy cứ ám vào từng đêm tối. Giờ vẫn thèm nhưng chẳng hiểu sao không khi nào ghé qua mua của bà cụ mù một bát.
Phương ngồi chỗm chuệ trên con SH của chàng. Tôi đóng cửa, tắt điện nằm nghe những im ắng của phố nhỏ Hà Thành. Hình ảnh một bé gái Pakistan đang hôn lên má đứa em mới sinh của mình ở bệnh viện Nowshera.  Giữa mùa bão lũ, giữa cái đói, bệnh tật và chết chóc rình rập cận kề, thì một sinh linh ra đời vẫn được chào đón như một ngày quan trọng. Cũng may trước khi chìm vào giấc ngủ tôi còn kịp nói với em bé Pakistan “mừng bé sinh ra trong cuộc đời nhiều đau khổ và cũng lắm hạnh phúc này”. 
Mừng bé sinh ra trong cuộc đời này!



Trang rêu!

Qua đêm giông gió...



Mấy đêm nay thức chờ chồng, chị nghe thấy tiếng gà trống báo canh đơn độc

Khu phố mà vợ chồng chị mới chuyển đến ở khá yên tĩnh. Có lẽ cũng vì điều đó mà khi đến xem ngôi nhà có ban công rực rỡ sắc hoa này chị đã đồng ý mua luôn. Nhà nằm sâu trong hẻm, có một khoảng sân rộng được che mát bởi giàn hoa bìm bìm tím ngát. Kể cũng lạ, giữa thành phố chen chúc, chật chội này kiếm ra một góc nhỏ có màu sắc của thôn quê như thế thật khiến con người ta cảm động. Lạ hơn nữa là mấy đêm nay nằm trằn trọc chờ chồng đi tiệc tùng về khuya, chị nghe thấy tiếng gà trống báo canh đơn độc vang lên thảng thốt ở nhà kế bên. Một cảm giác bùi ngùi thương nhớ cố hương chảy tràn trong tâm trí chị. Chị bỗng thấy thương chú gà trống khi một mình cất tiếng gáy đến khản cổ mà vẫn không một tiếng gáy của đồng loại nào đáp lại. Nó cũng giống như việc chị thao thức chờ anh bao đêm dài trong căn phòng lạnh lẽo này mà anh không thèm đếm xỉa. Cảm giác mình đang bị bỏ rơi cứ giày vò tâm can chị.
 Chị sinh ra trong một gia đình nghèo ở quê. Học hết cấp III thì xin vào một nhà máy may ở thị xã vừa học việc vừa làm. Cũng tại đây chị gặp và quen anh sau nhiều lần anh về thăm cơ sở sản xuất. Công ty mà chị làm việc là một chi nhánh nhỏ của công ty mẹ đặt trên thành phố do anh làm giám đốc. Trời phú cho chị nhan sắc hơn người nhất là với đôi mắt lúc nào cũng vời vợi buồn như ẩn giấu nhiều điều thầm kín. Nên sau này khi thành vợ thành chồng, anh thú nhận rằng ngay từ cái nhìn đầu tiên anh đã muốn bao bọc, chở che cho Chị. Chị lúc nào cũng thật bé nhỏ, mỏng manh trong mắt anh, cảm tưởng như nếu anh không nắm chặt thì chị sẽ tan biến như mây khói. Đã có lần chị từng hỏi:
-Sao giữa bao nhiêu cô gái xinh đẹp hơn hẳn em về mọi mặt, anh lại chọn em?
Anh cười bảo:
-Vì ở bên cạnh em, anh cảm thấy bình yên.
Nhờ câu nói ấy nên dù phải vượt qua biết nhiêu khó khăn, cấm cản từ phía gia đình anh mà chị vẫn vững tin vào tình yêu ấy để đến được với nhau. Chị chỉ chỉ nghĩ đơn giản một điều anh sẽ bảo vệ khoảng trời bình yên ấy. Bởi vì trước hết bình yên là điều mà anh hay bất cứ người đàn ông nào cũng thật sự cần. Chị theo anh về làm dâu thành phố, hàng ngày tự vỗ về trái tim mình đừng quá chông chênh giữa nhịp sống nơi này. Chị từng nghĩ chỉ cần có anh bên cạnh thôi là mọi chuyện rồi sẽ ổn. Chị sẽ nhẫn nhịn để làm một người con dâu tốt trong hàng núi ngôn từ đay nghiến cay nghiệt của nhà chồng hàng ngày vẫn dội vào tai chị. Anh không phải nghe những lời nói đó, anh bận bịu với công việc và những mối mối quan hệ xã giao nhì nhằng mà chị chẳng bao giờ hiểu nổi. Khi anh bước chân ra khỏi bậc cửa cũng đồng nghĩa với việc chị phải lên giây cót tinh thần để tự chiến đấu với sự cô lập trong ngôi nhà giàu có mà lạnh lẽo. Chị bắt đầu sợ tiếng gõ mõ tụng kinh của mẹ chồng. Chị ám ảnh hương hoa sen vẫn đặt trên bàn thờ phật. Chị hoảng hốt trước những lời tử tế đầu môi che mắt thiên hạ. Chị cảm giác mình đang héo mòn, tan nũa ra từng ngày, từng ngày một…
Khi chị không còn đủ nhẫn nhịn cũng là lúc anh nhìn thấy những vết nứt toang hoác của gia đình. Và cũng là lúc chị nhận ra mình không phải là người quan trọng nhất đối với anh. Thế nên ngay cả khi có mặt anh trong ngôi nhà thì chị vẫn là người bị cô lập bằng hàng mớ luân lý, phép tắc của mẹ chồng. Đã đến lúc chị cần phải bước chân ra khỏi ngôi nhà. Nếu không rất có thể một ngày nào đó thức dậy vì không thể chịu đừng được mà chị tìm đến cái chết để giải thoát khỏi nỗi ám ảnh này. Để ổn thỏa mọi việc, anh mua căn nhà nằm trong hẻm yên tĩnh này cho chị. Cũng từ đấy anh như biến thành một người đàn ông hoàn toàn khác. Ngày của chị bây giờ chỉ vẻn vẹn trong hai chữ “chờ chồng”. Chị chờ anh cười với chị một tiếng, nói với chị một câu. Chờ anh đi làm về bên mâm cơm nguội ngắt. Nửa đêm chờ tiếng bước chân anh đi vào phòng rồi nằm quay lưng với chị. Những phút giây ân ái vợ chồng đã không còn đều đặn, mặn nồng như thể anh đã không còn hào hứng. Nên chị cứ chờ anh của những ngày xưa…Đã có lúc chị nghĩ chẳng mấy chốc mà chị cũng hóa đá vọng phu.
                                                   * * *
Tiếng gà trống lại gáy dáo dác cả góc phố lúc về đêm. Anh đã ngủ say trong hơi men phả nồng nặc cả căn phòng. Chị nằm quay lại ôm chồng thấy anh cựa mình hất tay chị ra, miệng lẩm bẩm gọi tên một người con gái khác. Chị úp mặt vào lưng chồng cố kìm nén bao thứ cảm xúc rối rắm cứ trực trào lên ứ nghẹn. Những tiếng gọi lẩm bẩm của anh đánh thức thứ linh cảm rất đàn bà trong chị. Nỗi lo sợ váng vất đâu đó trong ngôi nhà này chị đã cảm thấy từ rất lâu rồi nhưng chưa thể gọi rõ thành tên. Cái tên người phụ nữ lạ hoắc nào đó được thốt ra trong cơn say của chồng cũng giống như những giọt nước mắt chảy ra từ một giấc mơ. Tất cả đều thành thật đến trần trụi và tàn nhẫn. Lẽ nào… Có lẽ nào…
Chị đang rối bời với mớ suy nghĩ hồn độn, thì thấy tiếng điện thoại anh rung trong túi áo khoác mà lúc về anh quẳng nó ngay ở đầu giường. Tiếng rung ngắn, chị đoán đó là tin nhắn. Ai còn nhắn cho chồng chị vào giờ này chứ? Mà từ trước đến giờ kể cả khi còn yêu nhau anh cũng không có thói quen nhắn tin với ai, anh bảo có việc gì thì thì gọi ngay cho đỡ mệt. Hay là tin nhắn của tổng đài? Dạo này chị cũng hay nhận được mấy kiểu tin nhắn linh tinh báo các chương trình khuyến mại, tin rác quảng cáo game rồi cả tin lừa đảo nhờ bắn tiền qua điện thoại… Ôi! Thời buổi này chỗ nào cũng thấy lừa đảo, thật chẳng biết đằng nào mà lần. Nhưng bây giờ là nửa đêm rồi, chị chẳng bao giờ thấy tin nhắn lừa đảo hay tin nhắn của tổng đài gửi vào lúc trái khoái này. Vậy thì rút cuộc là của ai? Nếu ở công ty hay ai đó có việc gì quan trọng thì đã gọi điện rồi. Cảm giác bất an ngày càng lớn dần lên trong chị. Khẽ nhòm dậy nhìn anh đang ngủ say, chị luống cuống mò tìm điện thoại trong túi áo. Một tin nhắn, một cái tên viết tắt “V” và dòng tin ngắn gọn nhưng đủ khiến chị điếng lòng. “Anh đã về đến nhà chưa? Chuyện hôm nay em xin lỗi. Em thương anh!”. Chị xóa tin nhắn, để lại điện thoại vào chỗ cũ. Từ từ nằm xuống giường, nhắm chặt mắt để mặc dòng lệ chảy ngập cả đêm dài…
Sáng hôm sau anh thức dậy uể oải, nhìn lướt qua bữa sáng chị nấu được bày biện trên bàn ăn. Anh bảo:
-Từ mai em ăn sáng lúc nào thì nấu. Anh đến ăn cùng mấy anh em trong công ty.
Lúc anh bước ra khỏi cửa, chị dặn với theo:
-Anh uống ít rượu thôi. Hôm qua anh say nói linh tinh suốt đêm đấy.
Anh bỗng đứng khựng lại, không quay đầu lại phía chị, chỉ hỏi nhỏ:
-Anh đã nói gì à?
Chị cười bảo:
-À không! Chỉ là anh gọi tên một ai đó. Rất lâu.
-Say ấy mà. Nói lung tung em đừng để ý.
Chị quay vào nhà, ngồi rất lâu dưới chân cầu thang rồi quyết định đi siêu thị mua sắm ít đồ, tủ lạnh đã trống không từ hôm qua. Trên đường về chị tạt qua shop quần áo đang treo bản giảm giá. Chị lựa mãi không được bồ đồ nào ưng ý nhưng vẫn cứ kiên nhẫn lục đi lục lại từng quầy hàng. Mỗi bộ đồ chị thử rất lâu nhưng soi gương lần nào cũng chỉ thấy đôi mắt mình thâm quầng và khuân mặt đã xuống sắc nhiều. Chị đã quên không tô một chút son môi cho tươi tắn, mà từ lâu lắm rồi chị không có thói quen trang điểm khi ra ngoài. Cũng lâu lắm rồi chị không mua sắm gì cho mình. Chị vẫn giữ thói quen mặc lại những bộ đồ đã cũ như chính bộ váy chị đang mặc, nhìn qua gương chị nhận ra nó nhàu nhĩ mất rồi. Lựa nhanh mấy bộ trong đống quần áo vừa thử, chị bước vội ra khỏi shop để tránh nhìn vào các tấm gương và cửa kính được đặt ở nhiều nơi. Dù hai tay đã nặng trịch đồ nhưng chị vẫn muốn đi đâu đó nữa. Cũng chẳng biết có gì cần phải mua, có ai cần phải gặp. Nhưng đơn giản là chị không muốn trở về nhà vào lúc này. Đơn độc lắm. Mà chỗ chị đứng đã là lối rẽ vào ngõ phố nơi chị ở. Giá mà chị có một ai đó thân quen ở thành phố này chắc chị đã chạy đến đổ ập vào lòng họ mà khóc cho khuây khỏa. Nhưng đáng tiếc chị không còn ai hết, ngoài anh…
Đêm nay chị không chờ anh về. Trời mưa sấm chớp rất to. Chị nhớ không nhầm mình đã từng nói với anh là chị sợ nhất khi phải ở một mình đêm sấp chớp. Chỉ không dám chắc anh sẽ nhớ điều đó. Cuộc sống của anh có quá nhiều mối bận tâm hơn chị. Đêm nay chị chỉ nằm chờ tiếng gà gáy báo canh. Chị đoán nó là một con gà trống tre vì tiếng gáy nhỏ. Chị đoán đêm nay mưa chắc hẳn nó sẽ buồn mà gọi bạn lâu hơn. Nhưng chị chờ mãi…chờ mãi mà không thấy tiếng gà gáy. Đã hơn ba giờ đêm, nhẽ ra nó phải gáy được mấy canh rồi. Có thể tiếng sấm chớp to làm nó hoảng sợ mà không xác định được thời gian. Chị đi chậm từng bậc cầu thang, đi ra ban công nhìn sang sân thượng nhà bên cạnh dõi mắt tìm chú gà trống thường được nhốt ở đó. Con gà trống nằm gục đầu xuống đất, có lẽ nó đã chết cóng vì mưa lạnh. Mưa cũng đang trút xuống lòng chị tái tê, mưa lạnh thấu vào xương thịt…
                                           * * *
Chị tỉnh dậy trong bệnh viện, đầu óc đau như búa bổ. Thấy anh ngồi bên cạnh với ánh mắt đầy lo lắng. Anh hỏi han chị dồn dập. Anh siết chặt đôi bàn tay chị trong tay anh. Đúng lúc đó cô y tá vào kiểm tra tình hình sức khỏe rồi dặn chị:
-Chị bị cảm do ngấm mưa. Vết thương ở đầu cũng không nặng lắm, chỉ là xây xước nhẹ. Chị có thể xuất viện ngay ngày hôm nay được rồi. Nhưng chị lưu ý vì chị đang mang thai, nhất là thời kì đầu nên chú ý giữ gìn sức khỏe.
-Tôi đang mang thai sao?
-Phải! Chẳng nhẽ chị vẫn chưa biết mình đang mang sao? Chị nên tránh mọi va đập, cũng đừng để ngấm mưa như thế này sẽ rất nguy hiểm.
   Chị như không còn tin vào tai mình nữa. Niềm mong mỏi bấy lâu nay của chị không ngờ lại đến đúng lúc chị tưởng chừng như không thể gắng gượng được hơn. Việc có con lúc này giống như một phép màu. Đầu óc chị cứ quanh quẩn ý nghĩ về đứa bé. Nó sẽ giống chị hay giống anh? Nó là con trai hay con gái? Nếu con trai chị sẽ đặt tên là Hùng, còn nếu là con gái thì chị và anh còn chưa kịp nghĩ. Chỉ cần tưởng tượng cảnh sẽ có một đứa nhỏ bi bô chạy đùa dưới khoảng sân biếc tím là chị thấy hạnh phúc quá chừng.
Anh nãy giờ vẫn ngồi bên cạnh chị, đưa tay vuốt gọn những lọn tóc mai trên chán vợ. Khó khăn lắm anh mới có thể thốt lên:
-Anh xin lỗi! Xin lỗi hai mẹ con em! Từ giờ anh sẽ không để em phải lo lắng, buồn phiền nhiều như thế nữa.
Chị nhắm mắt, để yên tay mình trong tay anh, nói nhỏ:
-Em đau đầu quá. Chẳng nhớ nổi chuyện gì đã xảy ra đêm qua nữa. Chắc là do em vội vàng cất quần áo nên bị trượt chân ngã. Từ giờ em sẽ cẩn thận hơn. Anh đừng lo.
Chị đặt tay anh lên bụng mình, nhẹ nhàng vỗ về con. Chị tin đêm giông gió đã qua rồi. Ơn trời là con chị không sao. Có con bên đời chị tin mình sẽ biết cách để thứ tha và gìn giữ mái ấm này. Chị ngước lên nhìn anh, khẽ cười bảo:
-Chúng mình về nhà thôi anh. 
Có con bên đời chị tin mình sẽ biết cách thứ tha...

Trang Rêu!

Wednesday, September 5, 2012

Mang giùm em một cốc nước cam...

Tôi muốn dâng trọn vẹn tất cả sự phức tạp của mình vào trái tim anh.



Tôi vốn không phải là một người phụ nữ đơn giản, bất cứ thứ gì đơn giản đều khiến tôi chán ngán. Bạn có thể thấy tôi hiền dịu hôm nay, ngày mai thức dậy lại thấy tôi xù lông nhím. Trong hai tư tiếng đồng hồ, tôi dành phần nửa cho những ý nghĩ thánh thiện nảy mầm. Còn dành một chút cho đỏng đảnh hững hờ, chút toan tính và đôi khi cả một chút cay độc cho đời. Thế nhưng dù có biến hóa giống một con tắc kè hoa thì cố hữu trong tôi dường như vẫn là một đứa trẻ sẵn sàng giãy nảy ra ăn vạ nhưng cũng sẵn sàng nũng nịu với đời. Phong chỉ yêu một phần ba con người tôi, sàng lọc ra những thứ tử tế để yêu còn lại anh thản nhiên quăng sang một góc. Còn tôi, tôi lại muốn dâng trọn vẹn tất cả sự phức tạp của mình vào trái tim anh. Anh cười bảo trái tim anh có bộ lọc rất tuyệt vời. Giống như hòm thư điện tử tự động lọc đi những lá thư vớ vẩn vứt vào thùng rác.
Tôi thường ăn mặc rất giản dị không quá cầu kì và đỏm dáng, anh bảo thế cũng ổn, đàn bà điệu đà quá anh không thích. Kì thực tôi thừa biết mình đẹp, chẳng cần quá chăm chút thì vẫn có sức hút với khối gã đàn ông. Tôi cũng hiểu anh yêu trước tiên vì tôi đẹp, sau đó là thứ dịu dàng mà anh thường nhìn thấy ở tôi trong mọi đám đông. Anh bảo:
-Phụ nữ hiền dịu tạo cho người đàn ông cảm giác an toàn. Đàn bà cá tính cũng tốt nhưng đôi khi làm đàn ông bẽ mặt.
Tôi đáp trả anh bằng một nụ cười nhạt thếch, dĩ nhiên anh chẳng bao giờ đủ tinh tế để nhận ra điều đó. Anh quen áp đặt mọi thứ cho người khác, ngay cả suy nghĩ của tôi anh cũng có tham vọng áp đặt nó mà không nhận ra mình đã sai lầm. Thế nên khi nhận được điện thoại gọi đến bảo lãnh cho tôi tại sở cảnh sát 113 vì tội gây rối trật tự công cộng, anh gần như sốc nặng. Hàng loạt câu hỏi “tại sao?” được anh đưa ra truy vấn nhưng chẳng nhận về được ở tôi một câu trả lời nào đủ để thỏa mãn anh. Tôi đọc được sự thất vọng trong mắt anh và cả một chút bẽ bàng của một kẻ nghĩ mình đã bị lừa. Anh bảo:
-Anh không ngờ em lại côn đồ như vậy đấy!
-Xin người! Người muốn em phải thế nào đây? Dịu dàng ư? Em không thể cứ mãi dịu dàng ngay cả khi người ta hất nước vào mặt mình. Em không làm như thế được.
-Một người đàn bà khôn khéo sẽ biết nhiều cách giải quyết hơn là dùng vũ lực như em. Trong khi các em là bạn bè với nhau, bạn bè sao phải làm như vậy?
-Phải! Vì em không phải là người đàn bà khôn khéo được chưa? Em là thế đấy! Rất sằng phẳng, có vay có trả. Tại sao em lại phải tử tế với một người mà sau rất nhiều nỗ lực đến phút cuối cùng vẫn nhận ra rằng người ta chẳng coi mình ra gì hết. Anh thấy mất mặt vì em đúng không? Xin lỗi nhé!
Tôi vùng vằng bỏ đi, Phong kiên quyết không níu lại. Nhiều ngày sau đó anh mặc nhiên bỏ lại tôi như thể đấy là cách anh muốn tôi phải ăn năn, xem xét lại mình. Nhưng kì thực tôi chẳng thấy cần phải áy láy điều gì, chẳng ai là hoàn hảo, tôi thì lại càng không. Thi thoảng người đời vẫn ném vào tôi những câu chửi thậm tệ, những lời cạnh khóe chua cay. Họ bảo tôi là con hoang, là đứa mắc dịch, là đồ mất dạy. Ừ thì tôi không có ai dạy dỗ vì tôi không có bố còn mẹ thì mải miết với những cuộc tình hờ. Từ bé tôi quen sống ở nhà một mình, sáng thì đi học, chiều kiếm củi rồi tha thần chơi một mình ngoài vườn vặng. Tối muộn thì thổi cơm, củi lúc nào cũng ướt khiến nước mắt tôi chảy xót. Mâm cơm với bát cà muối, đĩa cua rang và nồi canh rau tàu bay được bày ra. Tôi ngồi đợi mẹ ngoài hiên nhưng nhiều hôm mẹ không về, tôi nằm ngủ quên ngoài chõng tre, nửa đêm tỉnh dậy nghe tiếng vạc kêu mà buồn xơ xác…
Tôi không nhớ hết mặt người tình của mẹ, mỗi người bà dẫn về nhà một đôi lần, họ qua đêm rồi lại đi. Tôi thường nhắc về họ bằng một vài đặc điểm nhận dạng, khi thì chú đầu hói, chú tóc xoăn, chú da đen, chú mắt buồn. Thi thoảng thấy mẹ ngồi thẫn thờ ngoài hiên hay thở hắt ra là tôi biết một người đàn ông đã đi qua đời mẹ. Tôi không hề ghét họ, đơn giản vì nhờ có họ mà mẹ vui còn tôi dường như chẳng bao giờ làm cho bà vui được. Thỉnh thoảng, thường là những buổi tối mùa đông khi hai mẹ con ngồi sưởi ấm trong bếp, tôi bảo mẹ:
-Mẹ chọn lấy một người rồi dọn về nhà mình ở, mẹ đừng đi mãi nữa.
Mẹ nhìn tôi cười hiu hắt, độ mươi lần cười hưu hắt như thế thì tôi thành thiếu nữ còn mẹ khóe mắt đã hằn dấu thời gian nhăn nhúm. Mẹ không kịp dạy dỗ tôi nhiều điều thì tôi đã phải chạm ngõ cuộc đời với vô vàn va đập. Đến lúc mẹ không còn đủ sức để đi theo những người đàn ông nữa, mẹ quay lại ngôi nhà với mong muốn dạy dỗ tôi. Nhưng giống như cái cây, những cành cong thuở bé không được uốn nắn giờ sừng sững cong vênh ngạo nghễ trước con mắt khó chịu của người đời. Thi thoảng những câu chuyện về tôi đến tai mẹ, bà thở dài nhìn tôi ngao ngán mà không biết rằng đó phần nhiều là chuyện người dưng thêu dệt. Mẹ không có niềm tin ở tôi, phải chăng bà đã  đánh mất thứ quý giá của tình mẫu tử trong một cuộc hành trình rong ruổi nào đó của những năm tháng còn xuân sắc. Tôi không trách mẹ cũng chẳng buồn, có chăng là cười khẩy cái thói tốt đẹp giả dối của người đời. Tôi đơn giản chỉ là mang khuân mặt mộc của mình vì tôi không có tài trang điểm để khe đi khuyết điểm. Người thì bảo tôi dễ chơi tính thẳng như ruột ngựa nhưng nhiều người lại bảo tôi là kẻ khó lường..
                                              * * *
Trong những ngày dài chờ đợi Phong bận bịu hết dự án này đến đợt công tác khác tôi tìm đến quán cafe sách trên phố Linh Lang. Đấy là điểm đến mỗi tối thứ sáu, khi một tuần làm việc căng thẳng trôi qua tôi chọn cách  thả hồn vào sách. Ở nơi đây không có ai chạm vào thế giới của tôi, khuân mặt mộc cũng vì thế mà trở nên thánh thiện. Phong không khi nào đến đây, nhưng anh vui vì thấy tôi tìm thấy niềm vui lành mạnh, thứ niềm vui không làm anh mất mặt. Tại đây tôi quen Quang, một người đàn ông khá thú vị với vẻ ngoài bụi bặm và bản tính vừa hiền lành vừa hài hước. Tôi thường ví Quang như một loại thức uống giải nhiệt mùa hè khi đáp ứng những cơn khát đến cháy cổ, người như anh làm bạn thì thật tuyệt. Quang biết tôi cần một người để cảm thông hơn là một người thầy luôn thích chỉ tay xem việc nào đúng, việc nào sai, cái nào nên làm còn cái nào không. Chẳng thế mà Quang luôn đứng về phía tôi dù tôi biết những việc mình làm không phải điều gì cũng khiến anh thấy hài lòng. Tôi bảo:
-Lỡ có một ngày trong em một nửa là đàn bà, nửa là ác quỷ thì sao?
-Cũng vậy thôi! Quan trọng là em thành ác quỷ với ác quỷ còn trở về là đàn bà bên những người tốt là được. Trong chúng ta ai chẳng có một phần ác quỷ.
Mỗi khi được ở bên Quang tôi cảm thấy mình dịu dàng hơn bao giờ hết. Tôi vẫn có thể làm những việc mà mình muốn, đi đến những nơi mà mình thích và bộc lộ mọi suy nghĩ của mình. Tôi đến câu lạc bộ khiêu vũ vào thứ bảy, thi thoảng ngồi lai rai bia vỉa hè với mực khô. Cũng có khi không tránh nổi vài cuộc tranh luận gay gắt với đồng nghiệp rồi về trút lên đầu Quang trong cái cười hiền lành đến tội. Thiên hạ bảo tôi ghê ghớm, chanh chua còn Quang thì nhún vai bảo thế vẫn còn chưa đủ độ, là phụ nữ cũng không nên hiền lành quá. Quang tôn trọng sở thích và lắng nghe tường tận mọi suy nghĩ của tôi, điều ấy dường như hiếm hoi lắm tôi mới nhận được từ Phong.
Phong mang về một đống sách dạy nấu ăn, dạy chăm sóc con cái. Anh bảo:
-Là phụ nữ có nhiều cái nên biết càng ít càng tốt nhưng lại có một vài cái nên tường tận.
Tôi khẽ nhún vai, hỏi vặn vẹo:
-Những cái nên biết ít là cái gì vậy?
-Phụ nữ bớt thông minh thì yên cửa yên nhà. Những chuyện ngoài xã hội càng im lặng thì càng tốt.
-À! Cái này tạm gọi là chính sách ngu dân dễ cai trị đây mà.
Phong phì cười, nhìn xoáy vào mắt tôi bảo:
-Thế là em biết hơi nhiều rồi đấy.
Tôi giơ đống sách Phong mua về và hỏi:
-Còn cái này chắc là cái mà phụ nữ nên biết tường tận đúng không?
-Em lại thông minh quá rồi! Nữ công gia chánh không phải là phận sự của phụ nữa hay sao?
Anh kết thúc cuộc nói chuyện với vẻ rất hả hê. Anh là vậy lúc nào cũng thích hơn thua như đứa trẻ. Tôi chẳng biết tại sao lại yêu anh, cần anh và đôi lúc lại chỉ biết nhường nhịn anh như thế. Dù rõ ràng ở bên anh tôi ít khi thấy bình yên.
                                          * * *
Phong đi công tác trong Sài Gòn nửa tháng thi thoảng điện ra kiểm tra trình độ học nấu ăn của tôi. Thú thật tôi thuộc tuýp phụ nữ ẩu đoảng vụng về, điều ấy chắc hẳn đã làm Phòng phiền lòng ghê lắm. Gia đình anh vốn gia giáo, khuân khổ, cảm giác như tất thảy mọi thứ đều tinh tươm hoàn hảo. Tôi chưa bao giờ cảm thấy gần gũi khi bước vào ngôi nhà ấy dù cho có rất nhiều tiếng cười chào đón. Tôi muốn chạm vào những tiếng cười ấy, nâng niu nó trên tay nhưng khi tôi nhón từng bước nhẹ tiến lại gần thì chúng tan biến vào hư không ngay tức khắc. Có một chút xót xa khi nhận ra rằng thế giới ấy vốn không thuộc về tôi.
Quang biết tôi buồn chuyện tình cảm nên muốn dành nhiều thời gian an ủi, chuyện trò. Anh thường tự sắp lịch hẹn, cứ đến phút chót mới alô chẳng kịp cho tôi khước từ, nhiều khi còn không kịp tắm giặt để rũ hết thứ mùi công sở. Quang rất biết cách làm vui lòng người khác bằng tất cả sự chân thành và hài hước. Anh cũng biết sắp xếp mớ lộn xộn trong con người bướng bỉnh của tôi. Quang vừa cá tính vừa dịu dàng đến mức tôi cứ bị hút theo từng ánh nhìn, cử chỉ của anh. Giống như khi bạn đọc một quyển sách, có những lúc ngôn từ trong sáng mạch lạc dẫn dụ bạn cuốn theo. Lại có lúc mạch cảm xúc sâu lắng khiến bạn không đành lòng cắt đứt. Tôi cứ đi theo tiếng gọi trái tim mình như thế mà không biết rằng từng bước chân đã mang tôi dời xa Phong nhiều quá… Xa đến mức khi nghe Quang bảo:
-Anh muốn những buổi chiều bình yên bên em thế này sẽ kéo dài mãi mãi.
Thì tôi tưởng như có thể vứt bỏ lại tất cả chẳng thiết tha gì, ngay cả tình yêu dành cho Phong vốn đã nhiều mệt mỏi. Để chỉ cần được nắm tay Quang đi dạo, được nghe thấy những bình yên khe khẽ đang trỗi dậy ngập lòng. Phong không nhận ra những thay đổi trong từng ý nghĩ của tôi dù lúc nào anh cũng hãnh diện vì đã giữ tôi ở bên mình suốt bốn năm. Sự kiêu hãnh của một kẻ ban ơn, giống như người lớn vẫn hãnh diện khi nghĩ mình có công lớn trong việc dạy dỗ một đứa trẻ hư. Nhưng tôi vốn là một đứa trẻ hư ngầm sau cái bằng lòng ngoài mặt. Tôi vừa thương mà cũng vừa giận Phong ghê ghớm lắm.
Phong trở về sau chuyến công tác, anh nhắc về đám cưới và nhiều chuyện của tương lai bằng vẻ mệt mỏi. Anh bảo:
-Em nên ở nhà chăm sóc chồng con, cuộc sống bên ngoài phức tạp và nhiều cám dỗ lắm. Công việc của anh đủ để lo cho mấy mẹ con em một cuộc sống đủ đầy.
-Nếu em vẫn muốn đi làm thì sao?
Phong nhìn tôi, ánh nhìn như chẳng còn chút sức lực nào:
-Thì…tùy em vậy. Nhưng em là phụ nữ, chuyện thu vén gia đình, chăm sóc các con là quan trọng nhất.
-Hình như em làm anh mệt mỏi lắm thì phải?
Phong không trả lời, hướng ánh nhìn ra cửa sổ. Trong giây phút ấy tôi thấy hụt hẫng hơn bao giờ hết. Cảm giác thất vọng về Phong thì ít mà thất vọng về bản thân thì nhiều. Từ lâu tôi cứ cố giằng níu Phong chẳng hiểu vì lẽ gì. Hay nói đúng hơn là chúng tôi đang giằng níu nhau trong mệt mỏi mà không ai đủ dũng cảm chấm dứt nó. Trước lúc chia tay nhau ở công viên anh vén lại những sợi tóc mai xõa trên trán tôi và bảo:
-Vì em vất vả nhiều rồi nên anh muốn được chăm sóc cho em.
Khi Phong vừa quay người bước đi, tôi hít một hơi thật sâu để đủ can đảm nói với anh những lời chắt ra từ gan ruột:
-Chúng mình dừng lại đi anh!
                                            * * *
Cho đến tận khi nằm quận mình ôm nỗi cô đơn tròn trịa suốt nửa tháng trời mà không nhận được một lời hỏi han hay một dòng tin nhắn dù là giận dỗi, oán trách từ Phong. Tôi mới biết hóa ra mình chẳng là gì đối với Phong hết, một chút lưu luyến cũng không. Thứ tình cảm anh từng dành cho tôi phải chăng chỉ là sự thương hại nảy sinh từ lòng chắc ẩn trong con người vốn tử tế của anh. Hóa ra cái kết cục này là điều anh đã muốn từ lâu, tôi sớm đã linh cảm được mà sao ngay cả khi chủ động đón nhận nó vẫn thấy nhiều chua chát.
Trong suốt khoảng thời gian dài nhốt mình trong phòng để tự hàn gắn vết thương. Tôi đã không đến cafe sách trên phố Linh Lang cũng không một lần gặp Quang để nhận được sự vỗ về, an ủi. Nhưng tôi biết Quang vẫn dõi theo tôi dù luôn giữ một khoảng cách nhất định đủ để tôi không cảm thấy phiền lòng. Thi thoảng Quang gọi đến như chỉ để nghe tôi thở dài và kiên nhẫn chờ tôi trong yên lặng. Cho đến khi tôi không chịu nổi sự cô đơn trống vắng nữa nên đã nhắn cho Quang rằng tôi cần một người đi dạo cho bớt buồn. Thì Quang bảo sẽ mang đến cho tôi một cốc nước cam có bỏ thêm thật nhiều đường uống cho đời bớt đắng…

 Trang rêu!