Sunday, October 14, 2012

LINH CẢM



Anh đã ở đâu vào giờ phút ấy? Câu hỏi đó cứ trở đi trở lại trong tâm trí để ám ảnh Đan ngay cả lúc hai đứa đang ngồi sát bên nhau hàng giờ trong im lặng. Sự hoang mang và hoài nghi của một trái tim yếu ớt đã không cất nổi thành lời. Rất nhiều ngày sau hôm xảy ra tai nạn, Đan đã có mặt tại đây trong căn phòng bốn mùa hoang hoải gió.
-Tối thứ ba tuần trước anh đã làm gì?
Thoáng chút giật mình, anh quay lại nhìn Đan rồi nhăn trán suy nghĩ khá lâu:
-Thứ ba tuần trước à? Lâu rồi làm sao anh nhớ được. Mà hình như không có gì khác,  anh vẫn đọc sách và uống cafe như mọi tối.
-Chỉ thế thôi sao?
-Ừ! Chỉ vậy thôi, tối nào cũng vậy. anh tưởng điều đó em thừa biết chứ? Mà tại sao em hỏi vậy, có chuyện gì à?
Lòng Đan chùng xuống, bỗng chốc thấy mình như đang rơi xuống vực sâu thăm thẳm một cách nhẹ bẫng, không trọng lượng. Đã biết trước câu trả lời rồi sao còn hỏi, thà cứ để mọi thứ mông lung đôi khi còn tìm ra lí do để ngụy biện vỗ về mình. Còn bây giờ thì Đan đã biết chắc chắn rằng vào cái đêm khủng khiếp chưa từng thấy trong cuộc đời mình, anh vẫn bình thản uống cafe và đọc một cuốn sách nào đó trong cái chồng sách cũ cao ngật ngưỡng kia. Một đêm như mọi đêm, dẫu cho ngoài kia có bão giông, dẫu cho người con gái anh yêu có đang đối mặt với hàng nghìn nỗi hoang mang, sợ hãi, thậm chí là cận kề cái chết. Dù đã quá hiểu và chấp nhận yêu anh suốt bốn năm, nhưng sao giây phút này Đan lại cảm thấy mọi thứ đã hoàn toàn sụp đổ. Trước khi trở về phòng, để kết thúc cho chuỗi thời gian trôi qua trong im lặng, Đan đã hỏi anh:
-Cuốn sách mà tối đó anh đọc tên gì vậy?
-À! Một cuốn sách về tình yêu.
-Nó hay chứ?
-Cũng thú vị. Em có muốn đọc không?
Đan lắc đầu, lặng lẽ về phòng trong chiếc váy voan trắng bồng bềnh. Anh vẫn ngồi đó, thả trôi những ý nghĩ vu vơ cùng làn khói thuốc.
Đan đã vắng nhà một tuần. Lúc đầu cô dự định về quê hương khói cho nội và quét dọn nhà cửa, vườn tược trong một vài ngày. Anh bận công việc nên không thể đưa Đan về được, một mình cô phóng xe hơn trăm cây số về đến nhà thì trời đã nhập nhoạng tối. Thắp hương cho nội xong, lòng dạ Đan bỗng nhiên bồn chồn đến lạ. Một mình ngồi giữa cảnh rừng ruộng, tiếng ếch nhái và những con đom đóm quắc vào màn đêm sự hoang vu, lạnh lẽo. Nỗi nhớ nội và những ám ảnh tuổi thơ lại ồ ập tràn về khiến Đan như rơi xuống bờ vực thẳm của sự mất mát, cô độc. Khi thấy không thể chịu đựng được, Đan phóng xe về thành phố ngay trong đêm. Nhưng thật không may khi trên đoạn đường vắng Đan gặp đám thanh niên chừng ba, bốn người đi chơi đêm rượt theo trêu chọc. Trong giây phút lao xe như điên dại rồi ngã văng ra giữa đường cua, trong những tích tắc cận kề giữa sự sống và cái chết lòng Đan chỉ nghĩ về anh. Ngay cả khi bị thương nằm lại giữa đường trong đêm vắng lạnh, Đan chỉ muốn bằng linh cảm của những người đang yêu anh sẽ đi tìm... Nhưng cuối cùng lại là bàn tay của một người xa lạ nắm lấy tay Đan, lau những giọt nước mắt đau đớn và sợ hãi rồi ngồi chăm cô trong bệnh viện cả một đêm dài.
Suốt một tuần nằm dưỡng thương trên tầng 2, ngày nào Đan cũng nằm im chờ đợi từng bước chân gấp gáp, vội vã lao lên từ cầu thang. Cũng có khi đang ngủ lại giật mình vì tiếng chân ai ngập ngừng trước cửa phòng. Nhưng khi mở mắt ra chỉ thấy toàn thương yêu, lo lắng của những người xa lạ dành cho nhau. Không có bước chân nào đang kiếm tìm Đan, điều đó cũng có nghĩa anh chẳng hề linh cảm thấy Đan đang gặp nạn, Đan đang chờ mong anh từng phút. Cho đến khi Đan trở về căn phòng này, trong giây phút đầu tiên gặp lại, anh dừng lướt trên những trang sách chằng chịt chữ chỉ để hỏi Đan:
-Em về rồi đấy à?
Bình thản như Đan vừa trở về sau chuyến thăm quê thường nhật, như thể suốt một tuần qua chưa hề có chuyện gì hệ trọng xảy ra đối với cô.
Trong suốt khoảng thời gian chữa vết thương ở bệnh viện thị xã Sơn Tây, phòng trọ của cô không hề khóa cửa. Thế nhưng khi trở về nhà, bình hoa sen trắng đã héo rũ bên cửa sổ, bụi đã phủ đầy bàn trang điểm và bức thư viết dặn anh chăm sóc bình cá cảnh vẫn chưa được mở. Cũng may, anh còn nhớ cho lũ cá ăn để ít nhất khi Đan trở về cũng không phải nhìn thấy cảnh tượng những con cá nằm phơi bụng.
                                                   * * *
Đan mồ côi từ nhỏ, sống với bà nội đến năm mười sáu tuổi thì nội mất. Đan ra thành phố vừa học vừa bươn trải, ngày ngày lầm lũi trở về căn phòng trọ một mình. Phòng trọ nằm trên tầng hai, chủ nhà là một bà cụ nhiều tuổi, không có con cháu thân thích nên chiều nào cũng ngồi trước cầu thang đợi Đan về để chuyện trò khuây khỏa. Còn anh, vốn thiếu thốn tình cảm của mẹ từ nhỏ do mẹ bỏ hai bố con anh để đi bước nữa. Bằng một cách nào đó dòng đời đã xô đẩy Đan và anh lại với nhau, kể từ khi anh chuyển về trọ ở phòng đối diện phòng cô. Bà chủ chiều chiều lại đợi thêm một người, ngôi nhà ấm cúng hơn hẳn dù cho anh chẳng mấy khi cười nói. Nhờ cùng ngồi ngắm mưa với nhau ở cuối hành lang vài lần thế là thành bờ vai cho nhau dựa.
Đan và anh đi bên cuộc đời nhau lặng lẽ như hai chiếc bóng. Thi thoảng trở về nhà sau một ngày dài mệt mỏi, Đan tạt qua phòng anh, hai đứa nấu ăn rồi nằm dài bên nhau nghĩ vẩn vơ. Thi thoảng sau giấc mơ về hình bóng mẹ, anh ôm choàng Đan từ phía sau, nghe rất rõ từng nhịp tim nhau đập mạnh trong lồng ngực. Đó phải chăng là sự đồng cảm của hai con người thiếu thốn tình cảm, cứ thế dựa vào nhau để tồn tại. Không giận hờn, ghen tuông, không đối thoại ngày ngày, thậm chí không cả những cuộc tranh luận hào hứng. Thế nhưng cả Đan và anh luôn nghĩ rằng cả hai thật sự cần có nhau, ngay cả khi có nhau chỉ để lặng thầm như thế. Đã có lần trong một buổi chiều mưa Đan bảo:
-Nếu một ngày bỗng nhiên một trong hai chúng ta bốc hơi khỏi cuộc đời này thì sao nhỉ?
Anh nhấp nhẹ hụm cafe, nheo mắt nhìn Đan dò hỏi:
-Nếu là anh?
-Em không biết nữa. Quên đi một thói quen đã khó nữa là quên đi một con người. Nhưng nếu người bốc hơi lại chính là em?
-Có thể sáng anh vẫn đi làm rồi tối lại cafe và đọc sách. Chờ cho đến khi nào anh cũng bốc hơi khỏi thế giới này.
Ngay lúc đó Đan đã thắc mắc là tại sao anh không hề nghĩ đến chuyện sẽ đi tìm Đan. Những người yêu nhau sẽ biết cách để tìm thấy nhau dù cho có cách xa cả nửa vòng trái đất. Họ không chấp nhận sự mất mát, không chịu ngồi yên chờ đợi. Họ thậm chí có thể lao vào lửa hoặc rơi xuống vực sâu chỉ để tìm thấy người yêu. Còn Đan và anh, đã bốn năm dài yêu nhau mà cả hai người chưa bao giờ nói nhớ nhung nhau, hay bởi vì xa cách chưa bao giờ đủ...
Suốt một tuần nằm viện, Đan không thể nào liên lạc được với anh vì điện thoại đã vỡ vụn trong vụ tai nạn. Ngay cả sim điện thoại cũng văng đâu mất. Mặc dù Đan rất muốn liên lạc với anh nhưng cô không thể nào nhớ nổi số sim anh đang dùng. Những con số cứ nhảy lộn xộn trong đầu để đến khi chắp nối lại thì thành ra những giọng nói lạ hoắc và vô cảm của một cụ già, một gã cáu bẳn miền trong hay một cô ả chua loét và kênh kiệu. Rất lâu rồi, kể từ khi học cách quên đi những ám ảnh u buồn về quá khứ thì dường như Đan cũng dần quên luôn mọi thứ xung quanh. Cho đến lúc chỉ có một mình nằm co quắp trong bệnh viện Đan mới nhận ra mình có một trí nhớ tồi chỉ vì đã vô tâm quá mức.
Những ngày sống trong chờ đợi, đã có lúc Đan chợt nghĩ rằng, nếu như hôm đó không may Đan bị chấn thương sọ não, khi tỉnh dậy không còn nhớ nổi mình là ai, mình đến từ đâu. Không thể tìm về căn nhà trọ có bà chủ cô độc trong thành phố thì chắc hẳn anh cũng sẽ không kiếm tìm hoặc không biết Đan ở đâu mà kiếm. Bởi vốn lẽ anh không có linh cảm của những người đang yêu. Giác quan thứ sáu chỉ thực sự dành cho những người biết thương yêu và luôn hướng về nhau.
                                         * * *
-Anh có bao giờ nghĩ chúng mình yêu nhau chỉ như một thói quen?
-Như anh uống cafe và đọc sách vào mỗi tối sao?
-Hình như vậy. Em có cảm giác hai đứa mình dựa vào nhau chỉ để không thấy mình đơn độc. Để luôn thấy có một kẻ chìa bờ vai cho mình lúc buồn, để mỗi khi trở về phòng biết rằng bao giờ cũng có một người chờ ở đó. Như thế có được gọi là tình yêu không anh nhỉ?
-Có thể.
-Có thể?- Giọng Đan chùng xuống, như mắc nghẹn nơi cổ họng.
Sau một chuỗi im lặng, anh vẫn không thôi dời mắt khỏi quyển sách, giọng bình thản:
-Sao bỗng nhiên em lại muốn hỏi về tình yêu. Có chuyện gì đó không ổn sao em?
Sáng hôm sau, khi anh vẫn còn chìm trong giấc ngủ còn đượm mùi cafe và câu chuyện tình yêu của tiểu thuyết Quỳnh Dao thì Đan xách vali chầm chậm bước xuống từng bậc cầu thang. Đan chọn cách ra đi bởi cô sợ mình sẽ không chịu nổi sự cô đơn chế ngự ở nơi này. Đan cứ tưởng khi tựa vào vai một người nào đó thì đời cô không còn cô đơn nữa, nhưng không ngờ hai con người càng cố bấu víu với nhau càng cô đơn bằng những khoảng cách vô hình. Đan đi vì nghĩ rằng nếu cô còn tiếp tục ở lại, thì một ngày nào đó không xa, khi không chịu đựng nổi bao hoang hoải của cuộc đời, biết đâu Đan sẽ tìm đến cái chết trong chính căn phòng trọ nhỏ bé này. Khi đó chắc anh vẫn ở phòng đối diện bình thản đọc sách và nhấm nháp cafe. Dù cửa hai phòng chỉ cách nhau đúng một bước dài.
Đan ra đi bởi biết rằng nếu tình yêu đủ lớn thì nhất định anh sẽ biết cách tìm thấy Đan một lần nữa trong cuộc đời này... 

                                                        Vũ Thị Huyền Trang

Tuesday, October 9, 2012

Nữ chính...



Như thường lệ, sau mỗi chuyến công tác kéo dài chị thường đến thăm Uyên. Lần này vì bận giải quyết một số công việc nên đi xa về từ đầu tuần mà mãi cuối tuần mới ghé qua thăm em được. Xóm trọ vắng hoe, cửa phòng Uyên khóa im ỉm không quên dán kèm một tờ giấy vẽ chiếc mặt cười ngộ nghĩnh, chị biết nó dành cho chị. Moi dưới chậu hoa lấy chùm chìa khóa, chị mở cửa phòng nằm ngủ một giấc trưa trong không gian bình yên thân thuộc. Cứ mươi lần đến thăm em thì thể nào cũng phải bảy, tám lần không gặp em như thế. Chị cũng quen không còn hỏi em đi đâu và làm gì? Bởi chị biết thể nào cũng nhận được câu trả lời “Em trốn phố”. Lâu lâu em lại trốn phố một lần rồi mang về đầy hoa thơm cỏ dại trên môi cười hồn nhiên. Cứ như thể em đang được hồi sinh sau những ngày dài trốn trong vỏ bọc già nua ở thành phố này.
Em tự nhận mình là một cô gái thông minh và nhiều may mắn thế nên chẳng khó khăn gì để ngay sau khi tốt nghiệp em đã có một chỗ làm tử tế. Khi chị còn làm trưởng phòng nhân sự ở công ty cũ, em mới chỉ là một nhân viên bình thường. Chị đi chẳng bao lâu em đã thế chỗ chị một cách đầy vững vàng bản lĩnh. Quỹ thời gian của phụ nữ thành đạt thường chẳng có là bao, ấy thế mà tháng nào em cũng đôi lần gọi điện mời chị đi cà phê tán ngẫu. Em thường diện váy maxi sặc sỡ, tóc xoăn bồng bềnh tăng thêm quyến rũ bằng đôi môi mọng đỏ. Em là người khiến chị thấy nuối tiếc tuổi xuân của mình hơn ai hết. Lần nào gặp nhau cũng chỉ thấy em cười rạng rỡ, hỏi sao đến tuổi này vẫn chưa lấy chồng? Thoáng cụp mi buồn em hỏi “Chị có hạnh phúc không?”.
Hỏi câu ấy độ mươi lần thì em bắt đầu có suy nghĩ trốn phố. Trước chuyến đi đầu tiền em gọi chị đến bảo:
-Em đi có vài ngày thôi à! Nhưng sẽ không có thời gian ngồi tán ngẫu với chị nữa chị có buồn không? Chìa khóa nhà em để dưới chậu hoa, nếu chị mỏi mệt cứ đến đó ngủ một giấc trưa chị nhé.
-Sợ cả thành phố rộng lớn này không có ai chứa chị lúc gục lòng hay sao mà phải lo cho chị vậy nhỏ. Em cứ đi chơi vui là được.
Em chẳng còn bé bỏng gì, chị cũng đã tàn phai trông thấy bởi biết bao nhiêu toan tính vậy mà còn ngồi đây vỗ về nhau. Em bảo thành phố này bé xíu chẳng có ai ngoài chị nên em phải đi. Chơi với chị hoài cũng sợ chị rầy la mà chị cũng rảnh rỗi gì cho cam, suốt ngày bay như chim hết thành phố này đến thành phố khác bỏ mặc em lại một mình. Nói xong, em nháy mắt cười tinh nghịch rồi hòa lẫn vào dòng người lúc tan tầm đông nghịt, chị đứng đó nhìn theo mà thương cái dáng nhỏ bé đơn độc ấy. Chị cứ thắc thẩm hoài cớ sao em chị xinh đẹp giỏi giang là vậy mà không có người thương? Hay là nhiều người muốn thương mà thương không nổi? Nhắc chuyện chồng con với em, lúc nào em cũng chỉ tính cười trừ như thể chẳng bao giờ biết thương nhớ một ai. Người đâu mà lạ…
                                         * * *
Em ốm. Đấy là lần duy nhất em trở về sau khi trốn phố với bộ dạng thảm hại đến thế. Chị nhìn em mà xót xa than:
-Nếu thấy cuộc sống ở đây quá mệt mỏi sao em không dời khỏi đây luôn. Tính chi chuyện trốn phố vài ba ngày, cập rập đi đi về về cũng đã hết hơi thời gian đâu mà nghỉ ngơi nữa. Nhìn xem em này, mấy chốc mà tàn phai nhan sắc.
Em dụi mặt vào gối, nói nhẹ bẫng:
-Chị à! Em chưa thể rời nơi đây được.
-Em còn việc gì quan trọng cần làm hay là tiếc sự nghiệp mà mình đang phấn đấu? Mà cũng phải, ở tuổi như em dễ gì có được…
-Em đợi một người.
-Đợi ai? Sao chưa bao giờ chị nghe em nói về người đó? Đàn ông phải không? Người ta đang đi xa à?
-Không! Người ta đang ở rất gần em thôi chị.
Uyên nói rồi lặng lẽ khóc. Em nằm khóc rất lâu, những giọt nước mắt của em đọng lại dưới bìa cuốn sách “Em là của anh” của nhà văn Johanna Lindsey, nước mắt trong veo vương mấy sợi tóc đẹp tựa như một hồ thu. Chị ngồi ngắm em và nghĩ chắc hẳn em đang yêu, chỉ có tình yêu mới khiến con người ta dằn vặt khổ sở đến thế. Chị tự cười nhạo mình khi chưa gì đã nghĩ em chẳng biết yêu. Già như chị rồi còn điêu đứng liêu xiêu vì hai chữ tình yêu huống hồ em. Lúc đang cắm hoa sen vào bình, thấy em khẽ thở dài trong giấc mơ tự nhiên chị giật mình. Mẹ từng nói chị cũng rất hay thở dài lúc đang ngủ say như thế. Ừ mà chắc gì đã là một giấc ngủ say…
Sau hôm đó chị lại bận công tác triền miên. Em ở lại thành phố quản lý lũ nhân viên tiểu yêu chắc cũng chẳng dễ thở gì. Bằng chứng là lúc chị gọi về, thấy em gầm lên qua điện thoại. Em bảo hình như năm nay sao Thái Bạch chiếu đúng đỉnh đầu em thì phải. Nhân viên nữ thi nhau nghỉ đẻ, nhân viên nam say bia bọt tùm lum hết ông này đến ông khác, công việc bỏ bê trễ nải. Tuyển được mấy đứa mới vào thì toàn bọn sấc láo không thể tả. Chị nghe xong thì cười bảo:
-Có lẽ em thiếu một tách cà phê với chị đây mà. Mai chị về rồi có định hò hẹn không đây.
Tiếng em cười giòn tan như quên đi mọi bực dọc trong lòng. Em bảo nhất định phải hẹn chứ, người bận rộn như chị thì hở lúc nào là phải chộp tức thời. Chị cũng đâu có vừa, trước giờ hẹn chị gọi điện đến bảo:
-Bữa nay tưởng nhàn mà nhiều việc ghê nhỏ ơi. Làm từ sáng đến giờ chưa hết việc.
Em giãy nảy:
-Mặc kệ! Chị hẹn em rồi đó. Em đang trên đường đến quán nè. Chị mà bỏ em ngồi một mình là không yên với em đâu.
-Vậy chứ hôm nay đến đó có chuyện gì hay không mà chèo kéo bằng được chị. Chị nói trước là chị không rảnh đến đó chỉ để nghe em kể mấy chuyện tào lao ở công ty đâu nhé. Chị làm ở công ty đó gần chục năm rồi mới đi, thuộc tính cách mấy người đó đến từng chân tơ kẽ tóc.
Em nhăn nhó:
-Thế chị muốn nghe chuyện gì nào?
-Chuyện tình yêu của em đi. Không phải em bảo em đang chờ một người nào đó hay sao?
Em xì một tiếng rõ dài bảo chị già rồi mà còn tài buôn chuyện. Chị soi gương thít lại dây váy và tủm tỉm cười. Bỗng dưng vì trêu chọc em mà hôm nay chị thấy mình trẻ thêm vài tuổi…
Chị đến quán trễ mười lăm phút so với giờ hẹn. Em như thể vẫn giữ nguyên bộ mặt phụng phịu từ cuộc điện thoại nãy giờ, nên vừa nhìn thấy chị đã quạu cọ:
-Trông cái nụ cười ủ mưu của chị mới đáng ghét làm sao. Em đến sớm nên đã ngồi đây đợi chị gần một tiếng đồng hồ rồi đấy. Liệu mà đền bù đi, không là em dỗi đấy. Mà có mang cốm cho chị nữa này, phải vòng vào tận khu phố cổ mới mua được cốm ngon cho chị đó.
Chị nhéo cái má phúng phính như con nít của em và bảo:
-Muốn đền gì đây cưng? Kem nhé!
                                         * * *
-Em quen anh ấy trên mạng từ hồi em còn là sinh viên. Anh ấy người Hà Nội nhưng du học ở nước ngoài. Nói chung tính hay lắm, cởi mở và biết quan tâm chia sẻ. Hồi đấy điện thoại di động chưa phổ biến như bây giờ nên chủ yếu là chát chít và viết thư qua lại. Dù chẳng thề thốt với nhau điều gì nhưng cả hai đều tin và hiểu nhau lắm.
-Thế rồi sao?
-Chẳng sao cả. Anh ấy nói học xong sẽ về nước rồi lấy vợ, sinh con. Đến lúc em ra trường đi làm thì thường xuyên liên lạc với nhau. Ríu rít suốt ngày như đôi tình nhân vậy. Ấm áp lắm chị ạ và em cứ chờ đợi một hạnh phúc xa xôi, trọn vẹn hơn.
-Chị không hiểu tại sao…
Chị chưa nói hết câu thì em đã cắt lời:
-Hôm nay chị chỉ nghe em kể thôi, đừng nói gì cả được không? Em biết chị định nói những gì nhưng chị biết đấy con tim thường có lý lẽ riêng của nó. Em đã tin rằng con người ấy, trái tim ấy thuộc về mình như thể đó là định mệnh. Mà đã là định mệnh thì sẽ chẳng có gì thay đổi cả.
Chị khẽ thở dài, ngước nhìn em dò hỏi:
-Thế rồi sao nữa, hắn có về nước không?
Em cười chua chát:
-Có! Có về chứ chị. Nhưng mà không phải để gặp em.
Em im lặng rất lâu, tay khoắng tách cafe sủi bọt. Chị muốn an ủi em vài câu mà không biết nói sao chỉ thương đến ngập lòng. Em bảo chuyện xảy ra đã ba năm rồi, kể từ ngày em đi vào ảnh viện áo cưới cùng đứa bạn thân. Trong lúc ngắm bạn thử váy cưới, em đã nghĩ đến việc một ngày gần nhất mình cũng được trở thành cô dâu xinh đẹp đi bên cạnh người đàn ông ấy. Em đã nghĩ sẽ nuôi tóc dài để ngày cưới tết tóc quanh đầu chắc trông sẽ dịu dàng lắm. Em đã nghĩ sẽ cưới vào mùa sen nở, chính là mùa này đấy chị. Sẽ chọn màu son cánh sen cho vừa nền nã vừa quyến rũ… Nói đến đó rồi em đột nhiên chững lại. Chị đọc được sự hụt hẫng và mất mát dường như vẫn còn nguyên vẹn trong đôi mắt ấy. Đắn đo hồi lâu cuối cùng chị cũng hỏi:
-Rồi em gặp người đàn ông ấy ở ảnh viện áo cưới đúng không? Mà lại không chỉ đi có một mình đúng không?
Em bật cười:
-Phải chị ạ. Sến như phim Hàn Quốc ý.
-Rồi nữ chính xử sự ra sao?
Em nhún vai:
-Thì còn biết làm sao nữa. Ngồi ngắm luôn vợ người ta thử váy cưới chứ sao. Mà phải công nhận là cô ấy đẹp. Đẹp hơn em là cái chắc, dáng chuẩn, khúc nào đi khúc ấy đến em nhìn còn mê nữa là…
-Còn nhân vật nam chính thì thế nào?
-Chị xem phim Hàn Quốc thì thấy rồi đấy. Có vẻ lúng túng nhưng tảng lờ như không quen. Mặc dù từng ngắm ảnh nhau hàng ngày thuộc vị trí đến từng nốt ruồi nhỏ trên khuân mặt.
-Thế thì em còn chờ đợi điều gì nữa?
-Em đợi người ta đến nói với em một lời. Dù gì cũng đã từng vì nhau mà vui, vì nhau mà hy vọng. Kể cả người ta có không thương yêu em, có đi lấy một người con gái khác thì cũng phải nói với em một lời chứ chị. Chứ tại sao lại im lặng từ bấy đến giờ…
Chị thở dài, nhìn em thương xót:
-Ôi cái đứa em khờ khạo này. Người ta đã thế rồi thì chờ đợi làm gì chứ. Người biết nghĩ thì đã không làm cho em phải tổn thương. Chỉ có em là cứ ôm lấy chuyện cũ xưa mà tự dằn vặt mình cho thêm khổ. Em có chờ mười năm chứ cả trăm năm thì cũng chẳng có một lời nào cho em cả. Biết không?
Nhân vật nữ chính gục đầu xuống bàn khóc nức nở. Chị ngồi đó chẳng biết phải nói sao. Cuộc đời trăm mối tơ vò cũng khiến lòng chị có mấy khi thanh thản. Em rồi cũng như chị thôi, cứ ôm riết mấy thứ mà người khác cho là vớ vẩn linh tinh ấy vào lòng rồi có được gì đâu? Chị muốn khuyên em hãy khép lại những ngày tháng cũ mà mở rộng trái tim mình đón nhận một tình yêu khác đi. Nếu thấy mỏi mệt quá thì đến một nơi khác bình yên hơn mà sống đi, nhưng mà sợ khuyên không nổi. Thôi đành…
Em ngước đôi mắt ầng ậc nước lên, nói chị đừng xót xa em. Cũng có thể đến một ngày em sẽ thôi không chờ đợi nữa…
                                         * * *
Vào một ngày mưa, chị đi công tác ngồi ở xứ người mà nhớ thương đứa em gái nhỏ. Lúc chị điện về thì nữ chính bảo đang vào siêu thị mua một đống đồ hộp để cuối tuần này đi chơi. Chị hỏi:
-Lại trốn phố đấy à?
Tiếng em cười giòn tan lẫn vào tiếng loa thông báo oang oang trong siêu thị:
-Vâng! Nhưng là hẹn hò đấy nhé. Không phải thui thủi một mình nữa đâu nha! Bọn em sẽ làm một vòng khắp các tỉnh miền Đông Bắc. Chị ghen tị dần đi là vừa.
-Em làm chị bất ngờ đấy. Nam chính là ai thế, sao chưa nghe em kể?
-Bí mật, em mới quen vài tháng nay thôi nhưng mà hợp lắm. Sau lần này sẽ về ra mắt chị. Mà từ giờ em là nữ chính hạnh phúc, không phải là nữ chính đau khổ nữa đâu nha!
Chị nghe tiếng em cười khúc khích mà tưởng như tiếng mưa reo vui ngoài ô cửa xứ người. Chị thì nhớ phố lắm rồi, mong được về nhà để vỗ về mấy đứa nhỏ và để được hẹn hò xem mặt nam chính của em.

                                        Vũ Thị Huyền Trang

Friday, October 5, 2012

Bất tử...



Năm 2040. Tại một căn gác nhỏ giữa thủ đô Hà Nội -Việt Nam.
Chiếc đồng hồ quả lắc đã nhấm nhẳng buông đúng 8 tiếng vang khắp ngôi nhà. Vậy là đã 8h sáng nhưng khác hẳn những ngày thường, hôm nay Hạnh Văn vẫn nằm ngủ. Bên cạnh giường ngủ của cô, đặt một chiếc bàn trang điểm, trên chiếc bàn chỉ có duy nhất một vỏ hộp thuốc hình chữ nhật, nhỏ như đốt ngón tay nằm chổng chơ ở đó. Bên cửa sổ có một bình hoa hồng đỏ, cửa sổ được vén sẵn rèm cho ánh nắng buổi sớm ùa vào tràn ngập khắp căn phòng.
Hôm nay là một ngày cực kì quan trọng, nó cũng giống như ngày cô được sinh ra trên đời này một lần nữa để rồi mãi mãi ở lại với thế giới đầy tươi đẹp này. Suốt hơn ba mươi năm qua Hạnh Văn đã phải cố gắng làm việc cật lực để có thể mua được lọ thuốc bất tử. Và trong gia đình thì Hạnh Văn là người uống thuốc bất tử cuối cùng.
                                         * * *
Có nhiều người đã không thể đợi đến ngày được uống loại thuốc bất tử đó. Họ đã chết ngay trên đường đua số phận, lúc ấy cái phát minh vĩ đại kia của khoa học cũng không thể đến cứu họ kịp thời. Đơn giản vì họ chưa đủ tiền để có thể mua được nó.
Việc mua được 1 lọ thuốc bất tử cũng giống như vào những năm 2000 người ta mua một căn nhà ở thủ đô. Dĩ nhiên với số tiền tỉ, thì người mua được cũng không ít mà người chỉ dám ước thôi cũng rất nhiều. Thiên An là một trong số những người chỉ dám ước ao đó. Thậm chí cậu còn bất hạnh hơn khi không thể đợi được đến ngày đủ tiền mua thuốc thì đã chết vì suy kiệt sức lực, sau mấy chục năm làm việc cật lực. Ngày Thiên An mất, Huệ Văn càng lo sợ hơn cho số phận của mình khi xã hội đầy dẫy những bệnh truyền nhiễm mới mà khoa học lại chưa thể tìm ra thuốc chữa. Điều này thì có hai lí do, một là có thể những người đứng đầu của nền khoa học hiện đại thấy không cần phải mất thêm chút sức lực nào cho việc nghiên cứu các vác xin phòng bệnh, hay thuốc chưa bệnh nữa, vì họ đã phát minh ra một loại thuốc vĩ đại nhất đó là thuốc bất tử rồi. Việc còn lại là trách nhiệm bản thân mỗi cá nhân trong cộng đồng phải tự kiếm tiền mà mua lấy thuốc. Thứ hai là khoa học chưa thể có thời gian để tìm ra loại vac xin phòng và chữa bệnh khi mà chưa hoàn hồn với bệnh dịch này lại đến bệnh dịch khác.
Bởi vậy trong thời đại này có thể nói rằng mục tiêu phấn đấu lớn nhất của cá nhân mỗi người là mua cho bằng được sự bất tử bằng cái giá đắt cắt cổ. Nhưng suy cho cùng thì đó là thuốc bất tử chứ có phải là vài ba loại thuốc cảm cúm nữa đâu. Và cũng suy cho cùng thì tất cả các mục tiêu khác cũng chỉ phục vụ cho cái mục tiêu vĩ đại ấy. Nói một cách khác, khi mỗi cá nhân đã thực hiện được mục tiêu bất tử của mình thì mọi mục tiêu khác đều trở nên dễ dàng. Thế là ok! Ra đường không phải nhìn mặt, xem tướng xem người này muốn gì, người kia muốn gì. Mọi người chỉ có chúng một mục đích duy nhất. Thế vừa dễ sống lại vừa khó sống.
Trong giấc mơ của những thằng đàn ông đã vắng dần bóng dáng của đàn bà, thay vào đó là những con số bằng tiền chỉ đủ mua một hộp thuốc bất tử. Và thế là trong thời đại này tình yêu chả là cái gì hết. Ai ai cũng hiểu và vui lòng chấp nhận nó. Hạnh Văn và Thiên An cũng vậy. Họ đã định ngày cưới từ rất lâu, chỉ đợi ra trường là sẽ cưới ngay. Nhưng ngay từ khi có thông tin rằng các nhà khoa học nổi tiếng nhất trên thế giới sẽ tìm ra loại thuốc bất tử vào năm 2030 thì họ cũng bắt đầu quay theo cái guồng quay chung của xã hội. Đám cưới dường như chẳng còn cần thiết gì, nghĩ theo một hướng nào đó thì đám cưới nghe vẻ cũng xa vời như cái lọ thuốc bất tử mà lúc ấy chỉ có trong tương lai, hứa hẹn. Cho đến khi thuốc bất tử có mặt trên thế giới gần chục năm trời nó vẫn chỉ là mơ ước. Khi Thiên An qua đời cậu ta thành ra chẳng có gì. Hạnh phúc cũng không, tình yêu thì càng xa vời nữa. Ngày Thiên An mất, trong đám tang Hạnh Văn có khóc, nhưng ai cũng hiểu cô khóc không phải vì thương người yêu. Bởi tình yêu làm gì có chỗ đứng trong thời đại này, cô khóc vì cô sợ cô cũng sẽ chết trước khi mua được sự bất tử cho mình.
Bất tử ơi là bất tử!
                                         * * *
Trong gia đình Hạnh Văn thì chỉ có một mình cô là tri thức, còn lại tất cả mọi người, kể cả bố mẹ cô đều kinh doanh. Mỗi người kinh doanh một loại hàng, mỗi người đều có cách moi tiền của thiên hạ riêng. Riêng cái đồ trí thức như cô là không có cách nào kiếm tiền ngoài làm việc tám tiếng một ngày, lấy lương đều đặn. Buổi tối tranh thủ viết lách thêm để lấy tiền. Cũng chẳng nhằm nhò gì cả. Nó chỉ đáng mấy đồng lẻ so với bố mẹ, anh em cô. Mỗi lần về nhà đều nghe anh cô cười khà khà bảo:
-Thế là tao sắp mua được thuốc bất tử rồi. Cả nhà này thua tao hết.
Mỗi lúc như thế chỉ thấy bố mẹ im lặng tính toán giấy tờ gì đấy. Còn thằng em trai thì cười khẩy, ý nó bảo chả biết ai hơn ai đâu. Cuối cùng thì thật bất ngờ, với cái công ty sản xuất nước lọc của mình, bố mẹ cô đã mua được thuốc bất tử đầu tiên.
Anh trai bảo:
-Tẩm ngẩm tầm ngầm mà đấm chết voi.
Thằng út nhìn đầy tiếc rẻ. Còn Hạnh Văn chả thấy vui cũng chẳng buồn. Đúng hơn là cô đang lo lắng. Lại lo lắng. Con người ta nhỏ bé đi cũng vì lo lắng.
Thi thoảng bố mẹ cô lại bảo:
-Chúng mày không nhanh mà mua lại chết mất xác lúc nào không biết đấy.
Em út lại bảo:
-Việc ấy mẹ có lo cũng không được. Mà con chắc rằng là mẹ không muốn lo vì nếu thực sự biết lo lắng cho các con thì bố mẹ đã nhường thuốc bất tử cho chúng con rồi.
Bố đang đọc tờ báo có mục hài hước, cười khùng khục. Nhà có hai người bất tử có khác, cứ như trên đời này chẳng phải lo lắng thêm điều gì nữa cả. Mà đúng như thế thật chứ còn gì nữa.
                                         * * *
Hai năm sau ngày bố mẹ Hạnh Văn thành bất tử thì đến anh trai cả. Anh trai làm nghề kinh doanh, chuyên phân phối bánh kẹo.
Nhà có ba người bất tử.
Thằng út thi thoảng lại như phát điên lên trước đống giấy má. Nó làm kế toán cho một công ty tư nhân. Thi thoảng nó chửi đổng:
-Mẹ kiếp! Ước gì chúng nó chết hết đi.
                                         * * *
Khoảng một năm sau thì thằng út cũng bất tử. Nó cười khà khà:
-May quá mình chưa chết. Cái nghề của mình kể ra thì cũng không quá phụ bạc. Chỉ có cái nghề viết văn của bà thì xem ra ế ẩm thật rồi. Thật tội nghiệp.
Trong nhà chứa nhiều thùng rượu và vỏ bao thuốc lá hơn. Bệnh tật đã không còn làm người ta thấy sợ.
Thứ duy nhất khiến những người bất tử sợ đó là súng đạn, dao hay tai nạn dao thông. Những thứ có thể làm người ta chảy máu. Nên càng nhiều người bất tử thì thành phố càng đỡ tắc đường. Hơn bao giờ hết con người lại thấy sợ con người như thế. Người ta không dám chạm mặt nhau, kể cả những người thân trong cùng một gia đình.
                                * * *
Đêm trước ngày Hạnh Văn có thể đủ tiền để mua sự bất tử cho mình, cô lại bị nỗi lo sợ hành hạ bằng những cơn ác mộng. Thật là kinh khủng!
Hạnh Văn lúc thì mơ thấy mình tai nạn giao thông ở một ngã tư đông đúc. Không hiểu người kéo ở đâu ra mà đông thế. Như thể họ ra đường không phải vì họ tham gia giao thông mà chỉ với một mục đích là giết lẫn nhau. Họ đâm vào nhau, họ lăn xả vào nhau cào cấu. Hạnh Văn bị thương và không thể thoát khỏi đám đông hỗn loạn ấy. Cô đã bị chết ngạt trong biển máu.
Cũng có khi Hạnh Văn mơ thấy mình không vì một lý do gì cũng lăn ra chết, miệng sùi bọt trắng, chân tay sưng vù, mắt mở trừng trừng không ai vuốt nổi. Cũng có lúc Hạnh Văn mơ thấy cô tự cầm dao đâm vào mình nhiều nhát rồi nằm lăn ra đất, máu mê bê bết, không người chôn cất.
Mỗi lần tỉnh dậy Hạnh Văn đều hoảng hốt, ngồi thu lu trong bóng tối. Để rồi sáng dậy lại ngồi nhẩm đi tính lại số tiền mà mình có được cất kĩ trong một cái tráp để trong hộp giường. Những đồng tiền in chồng chất dấu vân tay vẫn  còn dính mồ hôi và nỗi lo sợ của một nữ vẫn động viên đang bị bỏ lại sau cùng trên đường đua số phận, còn những người khác đã ung dung về đích. Và cô rất sợ mình sẽ không thể gắng gượng để có thể về đích mà sẽ gục gã giữa nửa chừng.
Ôi nỗi lo sợ của con người!
                                         * * *
Cuối cùng thì Hạnh Văn cũng đủ sức chạy về đến đích. Nhưng cũng như những vẫn động viên đã quá gắng sức, khi về đến đích cũng là lúc Hạnh Văn gục ngã. Một cơn đau đớn vật vã quật Hạnh Văn nằm liệt giường suốt một tháng liền. Cũng may là cô đã thành bất tử nếu không đợt ốm ấy rất có thể sẽ quật cô gục hẳn.
Sau đợt ốm ấy Hạnh Văn không hiểu sao mà mình lại không thể vui vẻ, nói cười và tận hưởng cuộc đời bất tử của mình. Cô suốt ngày rầu rĩ, câm lặng không nói không cười, cũng ít ra đường ngoài lúc đi làm hay có việc gì thật cần thiết. Từ khi Thiên An mất cho đến tận bây giờ cô mới thật sự thấy đau. Hay nói đúng hơn là cho đến tận khi nỗi sợ hãi về cái chết không còn xảy ra với bản thân nữa, thì người ta mới có thể nghĩ đến người khác, và những điều khác.
Hạnh Văn tự thấy mình không thể tìm thấy một người đàn ông nào được như Thiên An nữa. Người đàn ông mà cô đã bỏ rơi ngay cả những ngày bệnh tật để lao vào vòng xoáy kiếm tiền, phục vụ cho mục đích bất tử của mình. Căn phòng của cô lúc nào cũng bốc lên cái mùi rẫu rĩ, màu ủ rũ và tiếng thở dài của những vật vô tri. Tất cả như chỉ nhằm vào mục đích dày vò , dằn vặt chủ nhân của nó trong nỗi cô độc của chính mình.
Từ khi bất tử Hạnh Văn cũng không chú tâm đến việc chăm sóc bản thân mình. Mọi sinh hoạt hàng ngày bị đảo lộn thậm chí là bê trễ. Những bữa ăn không còn cảm giác ngon miệng, những giấc ngủ không sâu. Thậm chí là nhiều đêm Hạnh Văn đã cố ru mình vào giấc ngủ nhưng cảm giác vẫn không bị đánh lừa. Mắt mở trong trong nhìn xuyên vào bóng đêm, càng thấy nỗi buồn thăm thẳm…
Đã rất lâu rồi Hạnh Văn không trở về nhà bố mẹ, cũng không liên lạc gì với anh em trai cả. Cô không còn cảm giác được hạnh phúc, bình yên khi ở bên họ như lúc nhỏ. Nhiều lúc trong bóng đêm những mảnh vụn kí ức về tuổi thơ trong ngôi nhà có năm người. Mùa mưa năm người chụm lại ủ ấm cho nhau khi căn nhà dột tứ phương, mùa nắng mấy anh em nằm dài dưới gốc ổi ngủ, bố mẹ thay nhau tay quạt, giấc mơ cổ tích ùa về. Những năm tháng ấy sao mà thiêng liêng mà ấm áp. Trong giấc mơ thèm khát yêu thương của mình, Hạnh Văn đã khóc như trẻ nhỏ, những giọt nước mắt nuối tiếc hiếm hoi của cuộc đời.
                                         * * *
Mùa đông…
Chiếc điện thoại đã chết máy không phải vì thời tiết lạnh đến đóng băng mà có lẽ vì đã rất lâu rồi nó không hoạt động. Không một cuộc gọi, không một tin nhắn, thậm chí nhiều lúc thèm khát một cuộc nháy máy cũng chỉ là vô vọng. Và chủ nhân của nó cũng không thực hiện một cuộc gọi hay nhắn một cái tin nào. Một cuộc nháy máy cũng không. Có lẽ chiếc điện thoại đã chết trong nỗi cô độc ấy. Và chủ nhân của nó cũng đang bị mùa đông vây hãm.
Ngoài cửa sổ, giỏ phong lan cuối cùng cũng đã lụi.
Thi thoảng những cơn gió đập vào ô cửa sổ như muốn phá tung căn phòng để ùa vào. Tiếng gió như tiếng chó sói cắn đêm. Lạnh và run sợ.
                                         * * *
Hôm đó là 25 tết. Những người dọn dẹp vệ sinh được đặt hàng theo chu kì trong mỗi năm đã phát hiện ra xác của Hạnh Văn nằm lạnh cóng trên giường. trên tay cô là chiếc dao gọt hoa quả rất sắc và nhọn. Máu chảy ra từ cổ. Máu cũng đã đông. Người ta ngạc nhiên rằng tại sao không khí trong căn phòng ấy lại lạnh thế trong khi đó ngoài trời đã ấm lên từ mấy ngày hôm trước. Tết mà! Vài ba người nghèo khổ đã đi mua áo ấm cho con, người giàu mua đào, mai, sâmpanh, quà tết. Dòng người lũ lượt…
…Và rất nhiều người trong số họ đang đi mua thuốc bất tử cho mình. 
                                                                      KTX 12h57 10-10-2009
Tôi viết truyện ngắn này khi đọc được trên mạng những thông tin dự báo tương lai này:
“Ray Kurzweil, nhà phát minh và tương lai học 61 tuổi, nói rằng tri thức mới trong lĩnh vực công nghệ  thông tin  và di truyền đang tăng lên với tốc độ khó tin. Theo ông, về mặt lý thuyết, nếu sự hiểu biết của nhân loại  cứ tiếp tục tăng như hiện nay, trong vòng 20 năm nữa, công nghệ  nano có thể giúp chúng ta tạo ra những sản phẩm  có chức năng giống hệt các cơ quan  nội tạng. Khác với cơ quan  nội tạng, những sản phẩm  ấy không bị lão hóa nên không bao giờ chết.”

Vũ Thị Huyền Trang

Monday, October 1, 2012

Đi lạc...



Sau khi đi lạc, sau khi quay đầu liệu người ta có còn đủ sức lực và sự minh mẫn để tìm thấy đúng đường? Hay là lại lạc sang một con đường khác?


Ai cũng bảo Hà Nội nhỏ xíu, lỡ có đi lạc thì loanh quanh một lúc sẽ tìm thấy đường về. Vậy mà sáu năm nay lần nào ra đường một mình tôi cũng cứ lạc hoài trong cái vòng nhỏ xíu ấy. Nhiều hôm lạc đến đêm mới tìm thấy đường về, mới thấy Hà Nội sao mà dài rộng thế. Như buổi sáng nay tôi đã đi lạc giữa dòng người. Cứ trôi đi như không có điểm dừng, như không có biển báo quay đầu xe, như thể không có ai đứng bên đường để tôi dừng hỏi. Tôi cứ đi dù biết ngày càng xa dần nơi tôi cần đến, đi như muốn cạn kiệt, muốn buông xuôi theo dòng chảy. Tôi kịp nhận ra rằng trong tình yêu hình như tôi cũng đã đi lạc quá xa nơi cái đích tôi cần đến.
Tôi yêu anh. Tình yêu đẹp như những con đường Hà Nội trắng hoa sưa dẫn dụ, mê hoặc lòng người từng tháng ngày. Yêu như thể trên đời này không ai có thể chạm vào tình yêu ấy. Không ai có thể thay thế được vị trí của nhau. Yêu đến mức thế giới này chỉ có hai đứa mà thôi, cùng đứng về phía nhau dẫu đằng trước, đằng sau đều là nắng quái. Yêu đến mức nhiều khi ngồi nghĩ dại, lỡ đứa này chết đi rồi đứa kia biết sống làm sao, mà tự nhiên nước mắt sụt sùi. Yêu cho đến phút cuối cùng được ở bên anh để rồi nhìn anh đi theo người con gái khác thì tôi vẫn nghĩ rằng tình yêu đó là mãi mãi. Tôi đã đi lạc quá xa rồi…
Anh ở đâu?
                                           * * *
Chúng tôi yêu nhau vào những năm tháng sinh viên nghèo rớt, chia nhau từng gói mì tôm sống là chuyện thường tình. Hồi đó suất cơm sinh viên chỉ có ba nghìn đồng, thế mà cuối tháng chưa có tiền nhà gửi xuống, nhiều hôm anh giả bộ ăn no rồi để nhường tôi. Để có tiền ăn học và đỡ đàn cha mẹ, chúng tôi lao đi làm thêm khắp nơi, bị thiên hạ lừa nhiều tôi chỉ biết gục đầu vào vùng ngực bình yên của nhau để khóc. Lao đi trong dòng xoáy chật vật của cuộc đời tôi quen với việc có anh luôn đứng đợi ở cuối đường để bớt sợ hãi hơn. Rồi thì ra trường, vật lộn với cuộc chạy đua kiếm tìm công việc đầy cám dỗ nhưng tình yêu của chúng tôi vẫn chẳng có gì thay đổi. Vẫn nồng nàn, tha thiết và cần đến nhau như một nửa trời định của mình. Có lần khi ngồi trên tầng thượng khu kí túc nghĩ vu vơ, tôi bất chợt hỏi anh:
-Sau này, lỡ có một ngày hai đứa mình không còn thuộc về nhau nữa. Anh sẽ làm gì mỗi buổi sáng thay vì réo gọi ầm ĩ em đi thể dục?
-Sẽ nhớ đến em.
-Mỗi buổi tối anh sẽ làm gì thay vì đưa em đi dạo?
-Anh sẽ vẫn đi dạo.
Tôi xị mặt. Anh nhéo má tôi, cười bảo:
-Nhưng là đi dạo trong miền kí ức về em. Được chưa nào cô bé đa sầu đa cảm này. Chúng mình làm sao mà xa nhau được chứ. Chỉ được cái hay nói linh tinh. Lần sau còn nói thế anh phạt đấy.
Ừ! Làm sao mà lại tin có ngày hai đứa sẽ chia tay, khi tình yêu ngọt ngào đến thế. Tôi từng nhiều đêm thao thức chỉ vì nghĩ cho được một cái tên hay cho con gái. Anh bảo:
-Con trai sẽ tên là Vũ
Tôi cười:
-Con gái nhất định là Kathy. Ừ! Sao mà em thích mấy cái tên ấy đến thế nhỉ. Nhưng mà còn tên gọi ở nhà cho bọn nhóc, tên ở nhà là phải đáng yêu vào.
Anh lém lỉnh:
-Con gái là cà chua. Con trai là cà rốt. Anh là cà pháo. Còn em, em là cà chớn! Đủ bộ nhé!
Tôi nguýt anh nói người đâu mà lúc nào cũng lạc quan, đùa cợt được. Ngay cả khi thứ mà chúng tôi có chỉ là hai bàn tay trắng, loay hoay vào đời với nhiều hụt hẫng và rạn nứt. Những lúc ngồi chót vót trên một tầng cao nào đó. Thứ chúng tôi ngắm nhìn là những tòa nhà san sát, chi chít ô cửa kính. Rồi cứ tự hỏi sao nhà cửa đông đúc thế kia mà không có một cánh cửa nào dành cho mình cả? Bao giờ thì chúng tôi mới mua nổi một ngôi nhà dù là rất nhỏ ở cái thành phố quá đắt đỏ này? Bao giờ mới thoát cảnh ở thuê nay đây mai đó? Biết đến bao giờ? Vậy mà vẫn có những hôm hai đứa ngồi bàn hào hứng:
-Bao giờ mua nhà, anh sẽ mua một mảnh đất nho nhỏ làm vườn cho em trồng hoa và rau xanh. Những ngày nghỉ đẹp trời cả nhà có thể ra đó đùa vui, bọn trẻ thi thoảng sẽ nằm lăn ra cỏ xanh cười đùa. À! Cần phải có một cái bàn nhỏ để anh vừa uống cafe vừa đọc sách lúc rảnh. Em có thể ngồi ở đó vừa xem các con chơi đùa vừa có thể chuẩn bị đồ ăn cho buổi tối.
-Em muốn có một chiếc bàn làm việc quay ra cửa sổ. Để mỗi sáng mở toang cửa đón làn gió mới ùa vào. Cảm giác thật là thích.
Rồi bỗng nhiên giọng chùng xuống, anh bảo:
-Bao giờ…
Tôi cười buồn:
-Thôi đừng có “bao giờ” mãi nữa. Bao giờ cho đến…bao giờ?
Rồi thì những lo toan bộn bề cứ kéo chúng tôi đi. Tôi bù đầu với hàng đống công việc ở công ty, tối còn nhận việc về nhà làm để kiếm thêm thu nhập. Anh đi xa thành phố thường xuyên với các hợp đồng nhằng nhịt những con số. Thời gian ở bên nhau ngày càng ít dần, những câu chuyện về tương lai ngày càng đứt quãng. Nhưng tôi vẫn luôn thấy ấm áp vì bên đời còn có một bờ vai. Tôi chỉ lo sao kiếm được thật nhiều tiền gom góp, tiết kiệm để nghĩ về một đám cưới với hàng trăm món phải chi. Nào thì nhẫn cưới, nào thì chăn ga gối đệm, nào thì tiền cọc thuê nhà cả 1 năm trả trước… Những lúc công việc quá tải, mệt nhoài vì cơm áo nhưng chỉ cần nghe thấy tiếng nhau nói, nhìn thấy mặt nhau cười. Nghĩ đến một ngày không xa hai đứa dọn về chung một nhà là bao nhiêu mỏi mệt tiêu tan hết. Nhưng người ta thường nói cuộc đời đâu đẹp như một giấc mơ. Huống chi cái giấc mơ của chúng tôi đã vô cùng chật vật…
                                           * * *
Vào một buổi sáng nào đó thức dậy, tự nhiên trong lòng tôi tràn ngập một cảm giác bất an. Chúng xâm chiếm, ăn mòn từng ý nghĩ và nhịp thở của tôi. Ngày ấy, bằng linh cảm của một người phụ nữ tôi phát hiện ra anh đã thuộc về người con gái khác. Tôi gần như điên loạn, trái tim muốn vỡ vụn và tan biến. Tôi muốn lao ra đường trôi theo dòng chảy đi bất cứ đâu. Tôi sợ mọi người nhìn thấy sự đau đớn ê chề của mình. Sợ những ánh nhìn thương hại. Và trong một phút giây điên loạn tôi đã thậm chí đã muốn lao đến giết chết anh.
Tôi không nhớ nổi mình đã trải qua những tháng ngày khủng hoảng sau đó như thế nào. Trong tôi giờ chỉ còn là cảm giác ê ẩm sau một nỗi đau dài. Tôi đã rất cố gắng để có thể quên anh, nhưng dường như điều đó là quá sức. Tôi nhớ nhung, trách giận anh trong từng hơi thở. Mở mắt ra thấy mọi đồ đạc trong căn phòng, mọi con đường, mọi ngõ ngách đều in bóng dáng quen thuộc của anh. Tôi xin nghỉ việc một thời gian, cố gắng chìm vào trong những giấc ngủ kéo dài. Nhưng ngay cả trong cơn mơ, những kỉ niệm ngọt ngào cũng ùa về khiến tim tôi nghẹt thở. Tôi lao vào mớ công việc hỗn độn ngập đầu, làm đến vắt kiệt sức vậy mà hình ảnh về anh vẫn không thôi giày vò, ám ảnh. Tôi mới nhận ra mình còn yêu anh nhiều lắm!
Tôi giành giật anh về phía mình. Giống như cách những đứa trẻ con giành giật lại thứ đồ chơi vốn là của mình nhưng đang nằm trong tay kẻ khác. Những kí ức tốt đẹp, những năm tháng khó khăn gắn bó với nhau giờ thành cái cớ để tôi níu anh lại bên mình. Tôi hoàn toàn không quan tâm đến tình cảm của anh hay tôi cứ tự mặc định rằng anh còn yêu tôi lắm? Rằng anh sinh ra để thuộc về tôi và những phút giây lầm lỡ kia chỉ là những phút xao lòng, thoảng qua như cơn gió. Có lẽ tôi bắt đầu mất phương hướng từ khi ấy, nỗi đau khiến tôi mù quáng đến đáng thương. Tôi có giữ được gì đâu ngoài thể xác anh. Trái tim ấy đã mãi mãi thuộc về người con gái khác. 
Anh đi bên cạnh đời tôi giống như kẻ vô hồn, dù anh vẫn chăm sóc cho tôi từng chút một. Cứ tưởng rằng khi tôi nhận ra sự thật đó thì tự khắc tôi sẽ dời bỏ anh để giữ lại chút thanh thản cuối cùng cho con tim đã quá nhiều rạn vỡ này. Nhưng tôi cứ nuôi chút hy vọng mỏng manh rằng rồi anh sẽ tỉnh lại, sẽ nhận ra thứ tình yêu chúng tôi từng có với nhau quá đẹp đẽ. Những hình dung về tương lai mà tôi từng kì công tô vẽ đã đổ sụp như một trò chơi ghép hình khi chỉ cần sai một mảnh ghép vào đúng nơi quan trong nhất. Nhưng tôi sẽ cần mẫn ghép lại, chỉ cần anh vẫn đi bên cạnh tôi như ngày nào, như chưa hề có khổ đau.
                                           * * *
Tôi đã đi quá xa nơi cần đến. Đã đi qua cầu Chương Dương sang Gia Lâm hướng về phía đường quốc lộ 5 để tỏa đi các tỉnh lân cận. Tôi đã ý thức mình cần phải dừng lại, cần phải tìm nơi quay đầu gấp. Nhưng tôi vẫn không hề giảm ga, vẫn cứ trôi đi giữa dòng người vội vã. Chỉ đến khi một cơn mưa ập đến, mọi người xung quanh đều đã vội vã dừng lại mặc áo mưa. Cái lạnh của cơn mưa đang ồ ạt táp vào mặt khiến tôi bừng tỉnh, tự nhiên tôi thấy mình đơn độc đến cùng cực. Con đường nơi tôi đang đứng xa lạ và dài hun hút? Tôi cứ tự hỏi đâu là điểm dừng nếu tôi cứ trôi đi như vậy?
Tôi trở về phòng trọ trong bộ dạng ướt lướt thướt, co ro như con mèo nhỏ. Anh ngước lên nhìn tôi bằng đôi mắt lộ rõ vẻ mệt mỏi rồi im lặng. Tôi đọc được sự cam chịu trong đôi mắt ấy. Hơn cả cơn mưa lạnh tầm tã, hơn cả quãng đường đi lạc sáng nay, ánh mắt ấy đã khiến tôi không còn sức lực. Chỉ có một trái tim đập nhịp đập yêu thương thì làm sao có thể gọi là hạnh phúc? Chỉ có một người mang ước mơ vun vén thì làm sao có thể tạo thành một mái nhà mang tên tình yêu? Nếu chúng tôi cứ trôi bên nhau vô định thì làm sao có được một điểm dừng? Tôi đã đi lạc quá xa rồi, có lẽ đã đến lúc phải dừng lại, phải kết thúc.
Tôi bảo anh:
-Anh có thể ra đi được rồi. Em sẽ không níu anh thêm nữa.
Anh khóc. Tôi quay mặt vào tường để kìm lòng không chạy theo anh khi cánh cửa kia khép lại. Để rồi cứ tự hỏi “Sau khi đi lạc, sau khi quay đầu liệu người ta có còn đủ sức lực và sự minh mẫn để tìm thấy đúng đường? Hay là lại lạc sang một con đường khác?”. Qua ô cửa sổ mờ nước, thấy cơn mưa ngoài trời đã tạnh. Anh đi, chắc sẽ không ướt áo…


Vũ Thị Huyền Trang

truyện tình hay, truyện tình yêu, truyện tình cảm, truyện tình: Mùa nắng hanh hao...

truyện tình hay, truyện tình yêu, truyện tình cảm, truyện tình: Mùa nắng hanh hao...

Sunday, September 23, 2012

Hai nửa...

  


Như thế, khi ngồi vắt vẻo trên thành lan can sân thượng khu nhà trọ, Vân thường hỏi Minh một câu cũ rích:
-Không biết giờ này một nửa của tôi đang ở đâu và đang làm gì ông nhỉ?
Minh đáp tỉnh bơ:
-Đang ở trong một cái nhà vệ sinh công cộng nào đó và giải quyết nỗi buồn thế kỷ.
Cũng có khi Minh đủng đỉnh:
-Một nửa của bà đang ở đây, ngay bên cạnh và lắng nghe những câu hỏi vớ vẩn của bà. Còn bây giờ thì thôi ngay cái điệp khúc sến chuối ấy đi.
Là y như rằng lần nào Minh cũng nhận được cái lườm sắc lém của Vân cùng với một quả thụi nhẹ vào giữa ngực. Rồi hai đứa giải chiếu, nằm chỏng kheo, ngửa mặt lên trời, khi Minh hát nghêu ngao mấy bài nhạc trẻ thì Vân vẫn mải mê nghĩ về một nửa của mình. Đó hẳn nhiên sẽ là một người đàn ông hoàn hảo, đủ  làm mê hoặc bất cứ một người con gái nào, đủ để Vân không bao giờ cảm thấy nhàm chán khi hai người ở bên nhau. Mà với Vân, trong tình yêu kị nhất là sự nhàm chán. Minh sờ trán Vân bảo:
-Chắc ngày xưa nghe nhiều chuyện cổ tích quá à mà bây giờ hồn vía cứ trên mây mãi thế? Thằng cha hói đầu, bụng phệ hiện tại của bà đâu rồi, đừng bảo lại bị bà đá rồi nhé!
-Đừng nhắc đến thằng cha ấy. Người đâu mà kẹt xỉn, đi chơi với gái mà tính toán từng đồng.
-Bà yêu người ta hay yêu cái túi tiền, tính đào mỏ tình yêu mãi à? Thế thì chẳng bao giờ tìm thấy chàng trai hoàn hảo đâu.
-Tôi không xấu xa như ông tưởng đâu nhưng là con gái thì phải được cưng chiều chứ. Mà mấy ông đấy tôi chỉ yêu cho vui thôi, đó không phải là nguyên mẫu lý tưởng của tôi.
Minh ngồi bật dậy trở về phòng, tự nhiên thấy ngột ngạt vô cùng. Vân dời khỏi xóm trọ bằng lớp son phấn lòe loẹt sau khi nhận được cuộc điện thoại của một gã đàn ông nào đấy. Khi chạm Minh ở cầu thang, Vân dặn:
-Tối nhớ cắm cơm nhiều chút, phần tôi một suất nhé. Thằng cha này chả bao giờ đãi tôi bữa nào ra hồn cả. Mà nếu tôi về muộn, nhớ ra mở cổng giúp tôi nghe chưa, thể nào cũng có khối chuyện để kể cho ông nghe đấy.
Minh đứng bên cửa sổ, nhìn theo bóng dáng Vân ngồi vắt vẻo trên con xe mô tô đồ sộ của thằng cha đầu hói. Lòng bỗng nhiên buồn tênh, trống rỗng như thể ngày nhỏ mỗi lần định chạm tay vào chùm bong bóng xà phòng thì nó đã vỡ tan vào không khí, không để lại dấu vết nào. Nhiều khi, Minh muốn lặng lẽ dời khỏi khu trọ này vào một buổi sáng tĩnh lặng nào đó. Ra đi không chào từ biệt ai, không gửi lại chút tin tức gì, không nhìn sang cửa phòng đối diện. Nơi mà Vân đang ngủ vùi trong lớp phấn son chưa kịp gột rửa và mùi rượu phả ra trong từng hơi thở. Cũng có khi Minh muốn đạp tung cánh cửa kia, lôi Vân dậy dội cho vài gáo nước lạnh để cô tỉnh táo. Để trở về thành Vân của những ngày đầu gặp gỡ chứ không phải vẻ trâng tráo, bụi bặm và sành đời của một đứa con gái sống cẩu thả, vô trách nhiệm với chính bản thân mình. Nhưng vì lẽ gì mà Minh vẫn ngồi đó, chờ cho đến mục ruỗng những tháng ngày trôi theo son phấn và nước mắt của Vân.
                                         * * *
Minh và Vân chuyển về khu nhà trọ này cùng một ngày, trời mưa như trút. Hà Nội ngập ngụa trong cơn mưa kỷ lục tháng 10- 2008. Đồ đạc hai đứa đều chẳng có gì, cái ba lô nhẹ tênh và khuân mặt mệt mỏi, chán chường sau một chặng đường dài dắt xe trong biển nước. Sau vài lần va nhau ở cầu thang, khi thì Vân nhờ Minh sang sửa dùm cái cầu chì, cũng có khi Vân kiếm đâu vài cuốn sách của Haruki Murakami mang quẳng sang phòng Minh bảo “Đọc đi, nghe bảo hay lắm đó”. Thế là thành thân nhau, thi thoảng hứng lên hai đứa đi chợ thổi cơm chung, Vân buộc tóc cao ngồi gõ vung chờ Minh lụi cụi rán xong đĩa chả cuốn lá lốt. Trong lúc Minh hứng chí kể về mấy ả điệu chảy nước ở công ty thì Vân chống cằm ngồi nghe chăm chú, thi thoảng lại phá lên cười.
Minh làm việc trong một công ty truyền thông, thi thoảng phải đi công tác vài ngày còn lại quẩn quanh, tiêu tan tuổi trẻ trong thành phố và căn phòng trọ tít hút tầng năm. Nơi ấy Minh có thể nghe thấy bước chân nhẹ nhàng và tiếng hát trong trẻo cất lên mỗi tối Vân đi làm về. Lần nào Vân cũng ghé qua phòng Minh để chuyện trò, để khóc và cũng có khi chỉ để ngồi im lặng, nghĩ ngợi vẩn vơ. Trước lúc lệt bệt quay về phòng, Vân bao giờ cũng hỏi:
-Không biết một nửa của Vân đang ở đâu Minh nhỉ? Hắn đang làm gì và có mảy may nghĩ gì đến tớ không?
Minh đã chán không buồn trả lời câu hỏi ngớ ngẩn ấy, anh ngồi nhìn bóng dáng Vân bước vào phòng cô và đóng sập cửa lại. Với Minh, tuy đã ở cùng khu trọ với Vân đã hơn một năm nhưng kì thực anh chẳng hiểu gì về người con gái ấy. Ngay cả nghề nghiệp của cô, anh cũng không biết, có hỏi Vân cũng chỉ lắc đầu cười. Cũng có khi Vân bảo:
-Minh quan tâm làm gì đến nghề nghiệp của Vân, bạc lắm, đơn giản nó chỉ là một công việc kiếm tiền.
Khi đó Vân còn ăn mặc kín đáo, đi lại nhẹ nhàng, còn xưng tên với Minh. Sau này tình cờ một lần Minh đi cafe cùng bạn, thấy Vân hát mê đắm trên sân khấu nhỏ, mắt buồn đẫm, tiếng hát có lúc như tiếng khóc. Lúc trồ Vân ở khu vệ sinh trong quán, thấy Vân đang ôm eo thằng cha nào già khọm. Nhìn thấy Minh, Vân cười, nụ cười khinh đời và bất cần chưa từng thấy. Từ đấy Vân xưng “tôi” với “ông”, đi về lọc cọc giầy cao gót, mùi rượu nồng, phấn son chát chúa không còn nhận ra cảm xúc.
-Có giọng hát hay như vậy, sao em nghĩ đến việc phát triển lâu dài mà chúi đầu vào mấy quán cafe đèn mờ vậy?
Vẫn cái vẻ trâng tráo, Vân bảo:
-Đèn mờ thì sao? Chả đứa quái nào sơ múi được tôi cái gì cả. Chúng nó cần gái đẹp như một vật trang trí còn tôi thì cần tiền. Cả hai bên đều có lợi như thế cũng tốt chứ sao?
-Nhưng một người đàn ông hoàn hảo thì không chấp nhận như thế.
-Người đàn ông hoàn hảo ấy là ông chắc?
-Không!
-Thế thì đừng ý kiến. Người đó phải yêu tôi và chấp nhận mọi thứ thuộc về tôi thì mới là người hoàn hảo.
Rồi Vân nằm vật ra, chậm dãi kể đủ thứ chuyện, hầu hết đều xoay quanh đàn ông. Khi thì là thằng cha đã một vợ ba con, tính tình phóng khoáng nhưng lúc nào cũng chỉ mong chiếm đoạt cô. Lúc thì gã họa sĩ, tình thì có mà tiền thì nhẵn túi, tóc tai bù xù hôi hám, dù quý tính nhưng cô không thể chạm môi hôn đến lần thứ hai trong cuộc đời. Cũng có khi Vân lại kể về thằng cha hói đầu bụng phệ, nói một tháng đưa cô một triệu với điều kiện đừng ôm eo thằng khác. Vân cười khẩy bảo với Minh “thằng cha đó coi tôi không bằng một con búp bê để tủ kính”. Rồi gục mặt vào vai Minh khóc, bàn tay vụng về của anh chạm nhẹ vào tóc cô thấy xa xót một điều gì khó tả…
Từ khi sống gần nhau, không khi nào Minh thấy Vân nói về gia đình, quê hương, cũng không bao giờ đến thăm một nơi nào đó. Có gặng hỏi, Vân cũng chỉ cười buồn bảo ở đâu có người chờ mình thì ở đó là nhà. Vân ghét nghe bất cứ ai kể về gia đình với hạnh phúc căng tròn và niềm tự hào hiện rõ trên khuân mặt. Ngoài ra Minh không hiểu gì về cô, tựa như cái tên “Vân” vốn là mây trời, là phù du tưởng gần mà hóa xa xôi lắm…
                                         * * *
Trời lại mưa rả rích. Vân trở về khu trọ sớm hơn, để mặc cho nỗi buồn âm ỉ lụi tàn dần. Vân mang ra chai rượu nhỏ, bày ít mực khô, nói:
-Đêm nay say nhé!
-Mai tôi còn phải đến cơ quan làm việc. Mà đàn bà đừng nghiện ngập mấy thứ đấy. Trông khó coi lắm.
Mất hứng, Vân vứt chai rượu chỏng chơ góc nhà, nằm dài dưới nền phòng Minh, gỡ mực khô nhai trệu trạo. Như chẳng có gì để nói với nhau nhiều hơn mọi khi một chút, Vân lại quay sang vấn đề muôn thưở nhưng giọng đã nhiều hoài nghi và mệt mỏi:
-Liệu tôi có thể tìm được một nửa của mình hay không? Hay tôi là một người dư thừa sau khi thượng đế đã xắp xếp mọi đôi lại với nhau? Nếu tôi bị lẻ đôi thì có nghĩa mãi mãi tôi chỉ là vật trang trí, là trò chơi cho kẻ khác. Phải không ông?
Khi Minh ngẩng lên, bắt gặp đôi mắt ầng ậc nước của Vân nhìn mình như kêu cứu, như muốn bấu víu, muốn nói “hãy làm ơn ở bên tôi, ôm lấy tôi và giúp tôi vượt qua quãng thời gian khủng khiếp này”. Nhưng Minh đã không đủ sức làm bờ vai cho Vân tựa, không biết phải nói gì cho cô nguôi ngoai, không dám làm gì cho đôi mắt kia thôi giỏ lệ. Hai người ngồi bên im lặng bên nhau, thời gian nặng nề trôi qua trong dằn vặt, hoài nghi và đau đớn. Chính giây phút ấy Minh cứ tự hỏi liệu mình có thể yêu người con gái đang ngồi trước mặt bằng tất cả sự rộng lượng, bao dung, cái thứ vốn ít có ở nhiều thằng đàn ông. Liệu có thể chấp nhận Vân và lãng quên những câu chuyện tanh mùi thực dụng, quên hình ảnh những cái ôm eo, quên hình ảnh thằng cha đầu hói... Và biết đâu, ngay cả sau này khi đã chấp nhận tình yêu ấy, Vân vẫn sẽ ra đi trong lớp phấn son ma mị và trở về trong nồng nặc hơi men. Biết đâu trong một giây phút nào đó đang nằm trong tay nhau, Vân lại hỏi về một nửa của mình liệu đang ở nơi đâu? Khi ấy Minh sẽ là cái gì? Sẽ lại là một cuộc vui không hơn không kém.
                                         * * *
Minh đưa thiệp mời cho Vân sau buổi sáng Vân chạm mặt một người con gái lạ bước ra từ cửa phòng Minh với chút gượng ngùng và mái tóc còn chưa kịp chải. Lần đầu tiên Vân ngập ngừng đứng trước cửa phòng Minh mà không thể bước vào. Cũng là lần đầu tiên khi đối diện với nhau, Minh không dám nhìn thẳng vào mắt Vân như những lần ngồi bên nhau nữa. Tối đó, sau khi uống khá say, Vân leo lên sân thượng đã thấy Minh ở đó. Vân châm thuốc, rít một hơi thật mạnh rồi phả khói vào mặt Minh cười khanh khách.
-Lại còn cả hút thuốc nữa à? Từ bao giờ vậy?
-Lâu rồi. Thích thì hút, chả ảnh hưởng đến ai. Mà sao nhanh vậy?
-Cái gì nhanh?
-Thì việc ông lấy vợ. Sao chẳng bao giờ thấy ông kể với tôi về người con gái ấy. Quen nhau lâu chưa?
Minh nằm ngửa cổ lên trời, khẽ thở dài:
-Vừa đủ để có thể hiểu nhau.
-À! Cái đó người ta gọi là một nửa đây mà. Dù sao cũng chúc mừng ông đã tìm thấy một nửa cho mình.
Vân nói rồi loạng choạng đi xuống phòng. Minh lặng im, thấy buốt nhói nơi ngực trái.
Ngày cưới Minh, Vân có mặt từ sớm nhưng ngồi khuất trong đám đông, lặng lẽ nhìn cô dâu, chú rể cúi lạy gia tiên và rạng rỡ khi trao nhẫn cưới. Một cảm giác hụt hẫng xâm chiếm lòng Vân, như thể cô vừa mất đi một điều gì vô cùng quý giá. Khi Vân bước ra khỏi đám cưới, Minh khẽ buông lỏng tay cô dâu, lặng lẽ nhìn theo như thể đang bất lực và nuối tiếc khi một phần hồn đã bay đi mất. Đám đông không mảy may quan tâm đến cô gái vừa dời khỏi đám cưới, cũng không nhận biết được cảm giác chênh vênh của chú rể. Họ chỉ làm đúng phận sự của một đám đông trong ngày đại hỉ. Họ hô vang:
-Hôn nhau đi! Hôn nhau đi!

Chú rể khẽ giật mình, luống cuống đặt lên môi cô dâu một nụ hôn vội vã.

Khách trọ...


                                                                       
 Khách trọ đến ở đã được một tuần, đã quen với căn phòng mới và quen cả việc mỗi ngày nhảng qua tường sang nhà chủ xách nước hai lần. Khách trọ tên Huyền, bà chủ vẫn gọi Huyền đen, Huyền tuyền âu yếm, ngọt ngào như cái cách bà gọi con misa cưng của bà. Huyền chẳng bao giờ thèm giận, vẫn sáng một lần, chiều một lần sách hẳn cái can to đoành sang đựng nước. Nhà bà chủ không giàu, có hai cái phòng cấp bốn, hai mẹ con bà ở một phòng với vài ba thứ đồ linh tinh không đáng giá, còn một phòng bà cho Huyền thuê trọ với giá ưu đãi. Từ đó nhà bỗng có ba người.
Nhà chủ rộng rãi, thật hiếm có một nhà nào ở giữa trung tâm thu đô lại đặc sệt tính nhà quê như thế. Ngoài vườn trồng vài ba bụi chuối, nuôi hẳn một đàn gà mười con, con nào con ấy vàng ươm. Ban ngày gà mái cục con ầm vườn, ban đêm thì gà trống gáy cả ngõ phố tỉnh giấc. Vài bụi mía tím vẫn còn trắng phấn, vài gốc cam bị sâu đục vàng, cây mít đã đến mùa ra quả. Tất cả đều gợi cho khách trọ cảm giác thân thuộc như quê mình. Đôi khi, giữa đêm tỉnh dậy vì tiếng gà gáy mà khách trọ cứ ngỡ mình đang nằm ngủ giữa quê nhà.
Đất nhà bà chủ đắt lắm, bao nhiêu người đến hỏi mua nhưng bà đều lắc đầu cười. Có hôm buột miệt khách trọ hỏi:
-Nhà thì ít người sao bác không bán bớt đất để làm gì rộng thênh thang thế này?
Bà bảo:
-Để cho thằng Hùng lấy vợ, sinh con, con lại sinh ra cháu. Đất bao nhiêu cũng chưa đủ chứ thế này đã ăn nhằm là gì. Ở rộng rãi cho nó thoải mái, chen nhau chật chội thì chỉ có mà tổn thọ thôi.
Đôi khi khách trọ nghĩ bà chủ thật dại, bao nhiêu người bán đất để có nhà lầu, xe hơi mà bà thì chỉ thích sống đạm bạc. Thế mà ai nói gì bà cũng chỉ cười cho qua chuyện. Cuộc sống của hai mẹ con bà không giàu có nhưng cũng tạm đủ. Bà trước kia bà mở quán cắt tóc nho nhỏ ở vỉa hè, sau này vừa là có tuổi, lại làm ăn không thuận lợi như trước kia nữa vì quán cắt tóc, gội đầu massage nổi lên khắp nơi nên bà không làm nữa. Suốt ngày quanh quẩn chăm mấy con gà và cơm cháo chờ anh con trai đi làm về. Anh Hùng học xong Đại học, xin luôn vào một công ty điện tử, lương tháng vài triệu, lúc nào cũng thấy anh vui vẻ, tính y hệt bà chủ. Người ngoài bảo “được cả mẹ lẫn con”, khách trọ thì nghĩ thầm họ như người ở nông thôn lạc xuống phố không bằng. Người đâu mà chân chất, thật thà đến lạ.
Dạo này nhà có ba người nên mỗi sáng đi chợ bà dặn mình mua nhiều hơn một chút. Bình thường chỉ nửa cân hến là hai mẹ con nấu canh ăn đủ, bây giờ bà mua cả cân mà vẫn lo sẽ thiếu. Bình thường bà chẳng bao giờ ăn được mướp đắng nhưng từ khi biết khách trọ thích ăn thì tuần nào bà cũng ghé hàng rau mua mướp đắng ít nhất một lần, rồi tạt qua hàng trứng mua về xào lên cho khách trọ. Mặc dù hai phòng ăn riêng, nhưng cứ đến bữa ăn là bà lại bê một bát thức ăn đứng bên bờ rào bằng bê tông gọi khách trọ ra dúi vào tay rồi lặng lẽ đi vào. Đôi khi mua hoa thắp hương mồng một, lại nghĩ phòng con gái cần phải có lọ hoa mới ra dáng thế là bà cũng đi mua hoa, mua bình về dúi cho khách trọ. Con trai bảo đùa:
-Mẹ chiều khách trọ hơn cả chiều con.
Bà chủ mắng yêu:
-Bố anh! Anh thì đã có mẹ lo cho từng miếng ăn, còn người ta một thân một mình sống giữa thành phố này, đói lo không ai biết. Lúc ốm đau không ai chăm, cũng là người thì phải biết thương người ta chứ.
Con trai chỉ cười, rồi tặc lưỡi bảo:
-Sao mà mẹ lại thương người hơn cả bản thân mình thế không biết được. Chưa nói dứt câu đã thấy bà ra bờ rào hỏi khách trọ:
-Cháu có gội đầu với bồ kết không? Bác đun luôn cho nhé!
Khách trọ sờ mái tóc rối bù của mình sau một ngày đạp xe đi làm thêm quanh Hà Nội, rồi vâng khe khẽ.  
Khách trọ đẹp. Cái vẻ đẹp thùy mị, dịu dàng của người con gái thôn quê. Lên thành phố ăn học đã được ba năm nhưng nhìn khách trọ không thay đổi nhiều so với buổi đầu mới đến đây thuê nhà. Vẫn mái tóc đen dài, vẫn mặc những bộ quần áo kín đáo mà tươm tất, vẫn nụ cười dễ làm mê đắm trái tim người khác. Khách trọ hiền, ít nói nhưng rất biết an ủi và giúp đỡ người khác. Những hôm trời hanh nắng, thấy bà chủ ra hiên nhà ngồi buồn thiu, để mấy con gà vào tận nhà quấy mà bà không buồn đuổi. Biết bà buồn, khách trọ lân la nhổ tóc sâu, chuyện trò hoặc chỉ ngồi im lặng nghe bà chủ thở dài từng tiếng. Những hôm mưa triền miên ngày đêm, trời đất, khi con trai đã đi làm, bà chủ lại ra hiên ngồi, nhìn mông lung ra màn mưa. Khách trọ ở bên này cũng ra hiên ngồi, tự nhiên không hiểu sao thấy buồn vu vơ, một nỗi buồn xa lắc...
                                                * * *
Ngày nhỏ, khách trọ cũng có những ngày ngồi ngóng vọng trong trời mưa như thế. Khi người mẹ hiền mất đi, khi bố phải theo những chuyến tàu lên biên giới làm ăn. Nhà chỉ còn mình bà nội với Huyền, mái lá cọ không tránh nổi những cơn mưa ồ ạt mùa hè, không che kín những cơn gió buốt rét mùa đông, không giấu nổi nỗi buồn đìu hiu, se sắt khi mùa thu đến. Mẹ mất vì bệnh ung thư vú, để lại trong trí óc Huyền mãi mãi là đôi mắt mẹ lúc nào cũng ầng ậc nước, giọng nói buồn như mưa, và đôi bàn tay những lúc ôm Huyền vào lòng mỏng manh như gió. Từ ngày mẹ mất, ngày nào Huyền cũng ra hiên ngóng, dù đã mấy lần nội bảo “mẹ con mất rồi, về một thế giới khác rồi và sẽ không bao giờ quay trở lại nữa đâu”. Huyền biết điều ấy, nhưng vẫn không thôi ngóng đợi. Ngày ấy Huyền còn tin vào cổ tích.
Huyền lên lớp bảy thì nội mất. Đúng vào những ngày mưa tầm tã như thế này. Nội đi rất nhẹ nhàng, khi hai bà cháu đang ngồi ngoài hiên thì nội kêu mệt vào giường nằm, một lúc sau nội gọi Huyền vào, nội ôm Huyền trong tay rồi hai bà cháu chìm vào giấc ngủ. Khi tỉnh dậy, Huyền kể chuyện về giấc mơ gặp mẹ ở một nơi rất đẹp với thật nhiều hoa bướm, chim muông. Huyền nằm im trong vòng tay bà, nói mãi, nói mãi vẫn không thấy bà lên tiếng, Huyền giật mình lay gọi mới biết nội đã đi rồi. Đôi môi nội buồn thiu, nhưng vòng tay ôm Huyền vào lòng thì vẫn chắc và rất ấm đến lạ. Bố đi làm xa, lúc đó nhà chỉ còn mình Huyền, nhìn ra màn mưa trắng trời mà thấy sao mình nhỏ bé, đơn độc thế...
Từ đó bố thôi không đi lên biên giới làm ăn nữa mà ở hẳn nhà chăm nom Huyền. Hàng ngày bố đi làm đồng, rảnh rỗi thì đi làm thuê bất cứ việc gì miễn là để có tiền cho Huyền ăn học. Dù bố đã cố gắng yêu thương để bù đắp những thiếu thốn tình cảm cho Huyền, nhưng cô không nào sao thôi nguôi ngoai nhớ mẹ. Nỗi nhớ như từng mạch máu cứ chảy rần rật trong da thịt, nỗi nhớ như cơn mưa, như từng đợt gió táp vào lạnh buốt. Huyền nhớ những buổi chiều hai mẹ con ra đồng tát tép, mặt Huyền lắm lem vì nghịch nước, mẹ âu yếm dùng bàn tay vẫn còn tanh mùi bùn, quyệt vội vào chiếc áo mồi của mẹ rồi dịu dàng lau má cho Huyền. Mùa đông, nhà nghèo nên Huyền chỉ có độc chiếc áo khoác hoa đã vá nhiều chỗ. Những hôm mưa, áo bị ướt, mẹ phải ngồi suốt canh thâu hơ áo để ngày mai Huyền có áo mặc đến trường. Lúc khoác chiếc áo vào người hơi ấm của than lửa, của tình yêu thương bao la từ mẹ khiến Huyền thêm ấm áp, chỉ có đôi mắt mẹ là trũng sâu vì thiếu ngủ. Những đêm mùa hè, cả vùng nông thôn đều chưa có điện, cả nhà nằm ngủ ngoài hiên, mẹ ngồi quạt cho mọi người đến lúc ngồi ngủ gật lúc nào không biết. Từ khi mẹ không còn trên cuộc đời này nữa, thì đối với Huyền nó là một thiếu hụt không gì có thể bù đắp được.
Từ ngày xuống thành phố học, lúc còn ở trong kí túc xá, hàng ngày thấy những bà mẹ khác xuống thăm con bằng sự lo lắng, những cử chỉ yêu thương, những vỗ về hiền hậu Huyền lại thấy chạnh lòng. Nhiều đêm nằm nghe đứa bạn gọi điện về cho mẹ khóc vì nhớ nhà. Nhiều đêm chùm kín đầu trong chăn khóc khi thấy đứa bạn nhận được thư của mẹ với những nét chữ của người không quen cầm bút, nhưng dòng chữ nào cũng ướt nhòe nước mắt. Dần dần sự thiếu hụt tình cảm của người mẹ khiến Huyền sống khép mình trong nỗi cô đơn và nhiều khi là cả sự mặc cảm và đố kị. Để tự giải thoát mình, Huyền xin ra khỏi kí túc xá và đi tìm nhà trọ.
Huyền làm khách trọ nhà mẹ con bà Cẩm đã được ba năm. Ở đây Huyền ít bị tổn thương, trừ những hôm bà Cẩm lôi cậu con trai đã lớn tướng ra giữa sân để bà vừa cắt tóc vừa cằn nhằn:
-Tóc tai để rậm rịt thế này mà cũng dám thò mặt ra đường, mà cũng dám mơ tưởng đến con gái người ta hả?
Là thể nào Hùng cũng nhăn nhó;
-Mẹ đừng cắt cho con quả đầu giống những năm 90 là được. Mà thôi, mẹ cứ để con ra quán cắt cho xong.
-Ngồi im đấy cho mẹ. Cứ cạo chọc không còn cái tóc nào là được đúng không? Đợi con mò ra quán thì có khi thành vượn.
Huyền ngồi bên này ngó sang, miệng thì cười mà tim sao nhoi nhói.
                                         * * *
Nhà bà chủ hóa ra cũng có con gái nhưng đã mất vì tai nạn lâu lắm rồi. Nhiều lúc buồn buồn bà chủ bảo:
-Nó mà còn sống cũng sẽ xinh đẹp như cháu vậy. Da nó trắng hồng, tóc đen mượt vì chiều nào bác cũng đun bồ kết cho nó gội. Hôm ấy con bé xin phép sang nhà bạn hỏi mấy bài tập khó, lúc dắt xe ra cổng nó còn quay vào bảo chỉ đi chốc lát rồi về ăn cơm. Thế mà bác ngồi ở hiên này đợi mãi, đợi cho đến tận bây giờ vẫn không thấy nó về...
Khách trọ có lúc buột mồm lại hỏi về bác trai. Bà chủ cười, hất tay chỉ vu vơ ra ngoài đường bảo:
-Ông ấy bỏ mẹ con bác đi lâu rồi. Bây giờ có vợ con trong Sài Gòn ý.
Mắt bà chủ rưng rưng. Khách trọ ngồi buồn xo. Hùng đi làm về thấy vậy là cằn nhằn:
-Mẹ đi vào nhà ngồi đi, chứ cứ ngồi ngoài này mưa tạt vào ốm thì sao, con nhắc mẹ bao nhiêu lần rồi. Lạnh lắm!
Khách trọ ra trường, ở thêm được hai năm nữa thì phải lòng mẹ con bà chủ. Sau mấy lần bà Cẩm bảo con trai chịu khó đưa khách trọ về quê thăm bố. Sau mấy lần khách trọ gặp phải dịch sốt, nằm li bì ở nhà được Hùng hỏi han ân cần, tự tay bà Cầm bón cho từng thìa cháo nhỏ tận tình như một người mẹ. Và sau cả rất nhiều buổi chiều nhìn bà Cầm ngồi ra hiên ngóng vu vơ đứa con gái nhỏ, tự nhiên khách trọ thấy yêu những con người trong ngôi nhà này như một phần thân thuộc. Hùng đã bàn với khách trọ đón bố xuống ở cùng nhà cho vui. Bà Cầm đã bàn chuyện phá bỏ bức tường rào, đập bỏ hai phòng cấp bốn rồi xây một cái nhà cho tử tế. Hai phòng giờ đã ăn chung nhau, bà chủ coi khách trọ là con cái trong nhà, giục hai đứa nhanh đưa nhau đi mua nhẫn cưới, thuê váy áo còn chụp ảnh cho kịp không lại hết mùa xuân.

Vũ thị Huyền Trang

Mùa nắng hanh hao...



Trái tim tôi đã mãi mãi ở lại mùa nắng hanh hao ấy...

Tôi tỉnh dậy sau một giấc ngủ trưa, thấy mùi nắng sộc vào mũi tôi qua khe cửa khép hờ rêu mốc. Tiếng gà mái cục con ngoài gốc roi nghe nôn nao đến lạ. Tôi ngồi dậy, ra chiếc chõng mắc ngoài gốc cây nằm đung đưa hóng nắng. Bên cạnh xóm trọ là con mương nhỏ chảy qua bốc lên mùi hăng hăng của đất, và tanh nồng của nước. Tôi hít thật căng lồng ngực, nhắm nghiền mắt, tự nhiên tim cứ ứa ra khe khẽ một nỗi đau. Mùa nắng hanh hao thứ hai mươi đã đến, tôi đi miết mà không tìm thấy hồn mình về lại. Mãi mãi cái buổi trưa năm ấy đã đánh cắp tất cả những thương yêu hồn nhiên nhất trong trái tim tôi. Mưa nắng đã nhạt phai hàng trăm nghìn thứ ở đời mà sao nỗi đau vẫn còn nguyên sắc đỏ.
Mẹ điện xuống nhắc tôi ngày giỗ Bống. Tôi dã dời gói ghém nỗi đau bắt chuyến xe khách cuối cùng về quê trước khi trời ập tối. Thấy tiếng chân tôi khua lá khô xào xạc, ngoại ngồi nép bên hiên bống giật mình luống cuống gọi “Bống ơi! Bống nhỏ về với ngoại đấy à?”. Mẹ lật đật chạy ra, vấp phải bậc cửa ngã nhào xuống đất. Tôi vội chạy vào đỡ mẹ, thấy đôi mắt mẹ ngước lên nhìn tôi hoang hoải, trống rỗng và hụt hẫng. Tôi cười bảo “Là con đây mà, thưa mẹ. Con đã về rồi”. Mẹ ừ một tiếng nhẹ bẫng, ừ như không ừ, thế mà đã kịp cứa vào tim tôi nhói buốt. Ở nhà này không ai mong nhớ gì tôi cả, ít ra tôi cũng đã vắng nhà bốn tháng. Đó là khoảng thời gian dài đằng đẵng và nặng nề trôi đi trong tôi. Nhưng dường như so với ngoại và mẹ thì lúc nào tôi cũng chỉ đi chơi đâu đó, quanh quẩn làng trên xóm dưới. Khi nào đói thì lại về, hơi đâu mà để ý, mà nhớ thương cho mệt xác.
Tôi nhìn lên ban thờ, Bống cười mắt tít, má đồng tiền xinh xinh lúng liếng. Nước ảnh đã mờ cũ, vài ba chỗ đã bắt đầu hoen ố. Ừ thì cũng hai mươi năm rồi, một phần ba đời người chứ có ít ỏi gì đâu. Tôi giờ cũng vừa qua tuổi ba mươi, trong khóe mắt những vệt buồn thời gian đọng lại đầy ẩn ức. Thế mà Bống vẫn cười ngây thơ, mỗi lần tôi trở về, em vẫn chào tôi bằng những nỗi đau không tuổi. Giá mà em có thể hiểu được rằng trái tim tôi vẫn ngày ngày rỉ máu vì sự ra đi của em. Dẫu cho thời gian đã gắng sức, dẫu cho hàng trăm nghìn lần trong cuộc đời hạn hẹp này tôi cố vứt đi nỗi ám ảnh để vui sống. Thì nụ cười của em và nước mắt của mẹ, sự thẫn thờ của ngoại vẫn in đậm trong tâm trí. Bống ơi!
Bữa cơm chiều ngoại bảo tôi:
-Phải chi hôm đó bay đừng dẫn nó đi tắm sông có phải bây giờ nó đã cao bằng con sào, đã thành thiếu nữ. Ờ! Mà cũng có khi nó lấy chồng rồi làm mẹ. Mấy hôm nọ ngoại thấy nó về, đứng ở ngoài hiên cười cười, tao vẫy gọi mãi mà nó không vào, cứ đứng cười một lúc rồi đi. Tội nghiệp!
Tôi cúi gằm mặt, cắm cúi ăn cho xong bữa. Lúc ngẩng lên thấy ngoại ngồi thẫn thờ, tôi gắp thức ăn vào bát ngoại nhưng bị ngoại gạt ra. Thức ăn văng tung tóe xuống mâm, ngoại khóc hờ, vừa khóc vừa nói “Bay là chị mà không biết trông em. Tội đó có đáng chết không?”. Mẹ nhìn tôi bảo:
-Ăn nhanh rồi ra vườn hái lá hương nhu về đun cho em nồi nước. Ngày xưa nó vẫn thích tắm bằng loại lá ấy, nó thường khen nước thơm mỗi khi được mẹ dùng nắm lá kỳ lưng.
Tôi khẽ gật đầu, vội buông bát chạy vội ra vườn. Tôi sợ nếu còn ngồi đấy thêm vài phút chắc thể nào tôi cũng òa khóc như con nít.
Tôi ngồi đun nước cho em, khói rơm cay mắt. Chợt nhớ những buổi hai chị em lùi lụt nước ngô, phồng mang trợn má thổi bắp ngô nỏng hổi dính than đen nhẻm. Bống vừa gặm ngô vừa nhìn vết nhọ trên mặt tôi cười tít mắt, những ngón tay nhỏ xíu, hồng hồng nhẹ nhàng lau má cho tôi. Những hôm mưa hai chị em ngồi ngoài hiên, chờ mẹ đi chợ về, Bống đòi làm công chúa đội vương miện mưa. Tôi hỏi:
-Nếu được làm công chúa, Bống có còn thời gian chơi với chị nữa không?
Bống ngẩng lên nhìn tôi bằng ánh mắt long lanh hạnh phúc, cười hở chiếc răng sún đen vì ăn nhiều kẹo bột. Em bảo:
-Bống thương chị bé nhất nhà mà. Chị bé đi đâu thì bống sẽ bám đuôi chị thật chắc.
Thế mà mùa hè năm ấy, Bống một mình ra đi, nhanh như sau một giấc mơ tỉnh dậy đã không còn thấy Bống. Rõ ràng hôm ấy là ngày nắng đầu tiên sau đợt mưa đầu mùa hạ. Hai chị em bảo nhau đi bày bán đồ hàng với đủ thứ đồ nghề như lỉnh kỉnh. Hôm ấy ngoại còn tặng hai đứa cái rá con con được đan bằng tre ngâm rất đẹp. Ngoại dặn hai đứa chơi với nhau rồi vào ngủ, chiều ngoại đi chùa sẽ mang về nhiều oản. Bống thích lắm, cứ một lúc lại ra ngõ ngóng xem có thấy bóng ngoại trên con đường nhỏ hay không. Trời thì nắng to, mồ hôi Bống nhễ nhại, những sợi tóc mai bết lại trên trán. Tôi nghĩ đến con sông phía bên kia rặng tre râm mát, mùa hạ nước ngập chỉ còn dải cát nhỏ nằm thoai thoải hai bên bờ, chỗ đó thật lý tưởng để chơi đùa. Tôi rủ Bống:
-Hai chị em mình xuống bờ sông chơi cho mát đi. Chị sẽ vun cát cho em xây lâu đài. Thích không?
Mắt em mở to, tròn xoe, miệng nhoẻn cười thích thú. Thế là tôi dắt em chạy băng qua cánh đồng thẳng hướng dặng tre râm mát. Chúng tôi đã chơi ở đó rất vui, gió từ sông thổi vào mát rượi. Bỗng nhiên nhìn dòng sông lấp lánh, Bống bảo:
-Khi nào lớn lên em sẽ xuôi thuyền theo dòng sông này tìm bố.
-Vì sao chứ?
-Vì ngoại từng nói bố lên thuyền đi khai thác cát rồi từ đấy đi luôn. Bố đang ở đâu chị nhỉ? Em nhớ bố.
-Em lại thèm kem mút phải không. Không có bố thì chị sẽ mua kem cho em suốt đời. Chịu không?
-Chịu!
Bống chọc nách tôi rồi cười khúc khích, xinh xinh hai núm đồng tiền. Chơi một lúc khá lâu, tôi kéo bống lên bụi tre nằm nghịch rồi ngủ quên lúc nào không biết. Chính giấc ngủ ấy đã cướp mất em tôi và đẩy tôi vào những ám ảnh khôn nguôi. Tôi nhớ như in hình ảnh Bống nhấp nhô trên mặt nước, tay vẫy về phía tôi, gọi tên tôi. Tôi lao ra dòng sông, nước chảy xiết, em tôi chìm nghỉm. Khi tôi tỉnh dậy, điều đầu tiên mà tôi nhìn thấy là ánh mắt đau đớn, hoang hoải của bà và mẹ. Không ai hỏi han tôi câu nào, tất cả xúm lại ngoài hiên nhà. Tôi đoán em đang nằm đó. Tim tôi dường như đã vụn vỡ từ buổi nắng hanh hao hôm ấy. Mãi mãi không thể nào vui trở lại.
                                         * * *
Tôi về nhà vẫn thường nằm ngủ cùng mẹ. Lúc nhỏ mẹ bao giờ cũng khom người ấp hai chị em tôi vào mùa đông, tôi rất thích cảm giác ấm áp ấy. Ngay cả mùa hè mẹ cũng thường vòng tay qua đầu khum khum như một mái nhà che chở cho hai đứa. Thế nhưng từ khi Bống mất, mẹ lúc nào cũng nằm quay lưng lại phía tôi, kể cả tôi trở về sau một khoảng thời gian dài. Và cả những hôm tôi sốt đùng đùng, mẹ trườm khăn, giã thuốc, bón cháo cho tôi chu đáo chỉ duy có một điều, mẹ vẫn nằm quay lưng lại với tôi. Tôi nghe tiếng mẹ thở mỏng tang mà xót xa, thèm muốn được choàng tay ôm mẹ. Nhưng tôi không bao giờ đủ sức...
Ngoại có thói quen dậy lúc nửa đêm. Thi thoảng lại thắp hương lên ban thờ nói “Cháu ơi cháu sống khôn chết thiêng, có về bên bà thì xin cháu bước vào nhà. Đừng đứng ngoài hiên gió to, cảm đó”. Rồi ngoại khóc hờ, nước mắt như đã cạn khô cùng mấy chục năm thương nhớ. Chắc ngoại còn ám ảnh hôm đưa tang Bống, do tục lệ kiêng mang những người chết đuối vào nhà mà phải đặt Bống ngoài giọt ranh. Trời nắng hanh hao, rồi bất chợt đổ cơn mưa. Mưa tái tê lòng người, em tôi dầm mưa ướt sũng. Có phải vì thế mà mỗi lần trở về em đều không bước chân quá thềm nhà. Tôi nghĩ, quặn thắt thương em, thương ngoại, thương mẹ và thương mình quá đỗi. Bống ơi!
Sau đám giỗ em, tôi lại đi, lúc ra đến cổng còn tần ngần ngoảnh lại. Thấy mẹ đứng ở đầu hiên nhìn, tôi biết mẹ cứ đứng thế thôi chứ không khi nào mẹ bảo “Ở nhà thêm vài ngày nữa con. Đi gì vội thế”. Tôi đi, những bước chân ngập ngừng, chậm chạp, chỉ mong sao có ai đó ới một câu, tôi sẽ quay lại, sẽ khóc cười, sẽ không bao giờ dời xa miền quê này nữa. Nhưng dường như có sự xuất hiện của tôi ở nơi đây chỉ càng làm cho nỗi đau khơi gợi.
Tôi ra bờ sông ngồi, nhìn chiếc thuyền khai thác cát trôi dọc sông mà bỗng nhiên nhớ em, nhớ bố. Không biết em đã tìm gặp được bố chưa, bố đang ở cõi thực hay đã về cõi ảo? Bao nhiêu năm qua, những chiếc thuyền ngược xuôi mang theo lời đồn thổi. Người thì bảo bố đã xuôi về vùng đất khác, có một cuộc sống bình yên bên người vợ và những đứa con xinh. Người bảo bố tôi lang bạt tứ phương, đâu cũng là quê hương, ngả lưng ở đâu thì đấy là nhà. Nhưng cũng có không ít người bảo bố tôi cùng vài người thợ khác đã bị lũ cuốn khi uống rượu say, ngủ quên trên thuyền đúng đêm thác lũ. Đã nhiều lần tôi định hỏi mẹ về bố nhưng dường như dòng sông đã đổ ập vào bà quá nhiều nỗi đau nên bà không còn muốn đối diện với nó nữa. Mẹ sợ một lần nữa nỗi đau sẽ khiến trái tim bà rệu rã. Tôi rất muốn gặp Bống trong cơn mơ, bởi tôi biết chắc rằng kể cả khi đã về một thế giới khác em cũng khẽ không quên ước mơ đi tìm bố. Còn tôi, tôi đang làm gì trong thế giới này suốt hai chục năm qua? Hay chỉ biết quẩn quanh với nỗi đau trong kí ức?
Bỗng nhiên tôi rất thèm được sống một ngày thật bình yên, quên hết đi mọi nỗi ưu phiền, sống như thể cuộc đời chẳng có gì khiến mình phải đau đớn nhiều thêm nữa. Tôi cũng rất muốn ngoại và mẹ cũng được sống khoảng thời gian còn lại của cuộc đời thanh thản. Bỗng nhiên tôi thấy nhớ bố vô cùng, nhớ một khuân mặt người không mấy khi hiện rõ trong tâm trí của mình suốt hai chục năm qua. Một nỗi nhớ vừa gần gũi vừa mông lung rất lạ. Tôi đã đi qua tháng ngày bằng cách ôm nỗi đau quá khứ để quay lưng lại với những thương yêu thực tại. Tôi tự hỏi bố đã ở đâu, làm gì trong mấy chục năm qua. Liệu bố có nhớ đến chị em tôi loắt choắt chạy ra bờ sông ngóng bố mỗi chiều. Để chờ một que kem mút, để được úp mặt vào ngực bố hít hà mùi mồ hôi, được nắm tay bố vui cười khúc khích. Liệu bố có biết những mùa nắng hanh hao Bống đã nhớ bố đến nhường nào.
Tôi đi tìm bố...

                                                        Vũ Thị Huyền Trang

Lạc mất nhau...



Hai người đã lạc mất nhau dù đã đính hôn và đang sống trong 1 thành phố nhỏ bé này

Chị và anh đã đính hôn và vẫn sống trong cùng một thành phố. Hàng tháng họ vẫn gặp nhau ít nhất một lần, anh vẫn thực hiện trách nhiệm với người vợ chưa cưới của mình. Người ngoài thì thấy rằng họ vẫn đang rất bình yên, hạnh phúc. Chỉ có những người trong cuộc như chị mới biết rằng hai người đã lạc mất nhau.
Chị là giáo viên dạy văn của một trường cấp III trong thành phố, còn anh là hướng dẫn viên du lịch. Mới nghe đã thấy hai nghề nghiệp có những đặc điểm và nhịp sống khác nhau. Anh thích những chuyến đi của mình, sự thay đổi không khí liên tục ấy tạo cho anh sự năng động mà bất cứ người trẻ nào cũng mơ ước. Công việc của chị thì khác, một ngày gần mười tiết học, vẫn là những tác phẩm ấy, bài giảng ấy và những khuân mặt học trò đầy trầm tư hay tinh nghịch ấy. Chị rất yêu nghề, nhưng đôi khi sự lặp đi lặp lại ấy cũng khiến nàng buồn chán. Phải là người có bản lĩnh nghề nghiệp và yêu nghề lắm chị mới có thể vượt qua được những phút giây nản lòng. Nhiểu lúc anh đùa:
-Xem ra chỉ có sự lãng mạn của một cô giáo dạy môn văn là sợi dây mỏng manh nối kết anh lại với em.
Chị cười. Nghĩ anh nói thật đúng, nếu chị là một giáo viên dạy toán hay bất cứ môn gì khác có lẽ mỗi lúc gặp nhau cả hai người sẽ chẳng có gì nhiều để nói với nhau. Tình yêu đến lạ kì, trước kia chị vốn không tin vào thứ tình yêu sét đánh. Nhưng chị lại là người yêu anh ngay từ cái nhìn đầu tiên ấy.
Dịp 20-11 năm ngoái nhà trường có tổ chức cho các giáo viên đi du lịch ở Sapa hai ngày nghỉ cuối tuần. Người dẫn tour chuyến đi ấy là anh, khỏe khoắn trong bồ đồ thể thao mùa đông, mặc cho cái rét buốt giá dưới 100c của cơn gió mùa bất ngờ ập đến, anh vẫn hoạt bát nói cười, hướng dẫn, giúp đỡ và chia sẻ với mọi người trong đoàn. Anh chu đáo đến từng chi tiết nhỏ, anh lo cho sức khỏe của mọi người hơn lo cho chính bản thân mình. Điều ấy khiến chị cảm động và ấm áp. Trong suốt chuyến đi cảnh sắc của Sapa không lôi cuốn chị bằng chính nụ cười luôn thường trực trên môi anh. Dường như anh cảm nhận được sự quan tâm ấy, anh cũng dành cho chị sự quan tâm đặc biệt. Dù suốt hai ngày trời hai người không hề chò chuyện riêng tư. Trong buổi tối cuối cùng, cả đoàn giao lưu với nhau, chị đọc một bài thơ tình của nhà thơ Bằng Việt. Khi đọc đến bốn câu thơ:
Có chút gì thích thú rất thơ ngây
Là dự đoán về nhau mà không cho nhau biết
Là nghĩ ngợi nhiều điều, mà nghĩ chưa tới hết…
Hạnh phúc gieo từng chuỗi ú tim dài…
Dù không hướng ánh mắt mình về phía anh, nhưng chị biết anh đang nhìn mình đầy ý tứ. Tình yêu của họ bắt đầu đầy lãng mạn như thế. Anh vẫn trở về thành phố một lần trong tuần sau những chuyến đi, để được đứng ở cổng trường chờ chị. Hẹn hò trong một quán cafe, anh mải mê kể về những chuyến đi, những vùng đất mới, những con người xa lạ mà cũng đầy gần gũi. Những trải nghiệm của anh làm chị ấm lòng, nhưng đôi khi trong chị lại gợn lên một nỗi hoang mang, hoài nghi đến lạ. Anh vẫn thích ngồi nghe chị đọc thơ, đôi khi cao hứng chị ngâm lên khe khẽ. Đã có lần anh bảo:
-Mẹ anh mất sớm, mỗi khi nhớ đến mẹ anh lại nhớ quay quắt giọng mẹ ru con. Ngày xưa mỗi đêm, mỗi ngày anh đều được nghe lời mẹ ru đứa em trai đầy ấm áp. Nghe vừa bình yên vừa buồn đến lạ. Bây giờ mỗi khi nghe em ngâm thơ, anh lại thấy có cái gì đó rất giống những điệu hát ru của mẹ.
Chính trong những phút giây ấy, chị thấy anh gần gũi hơn bao giờ hết. Nhưng chị không muốn nhìn thấy anh buồn, mỗi khi nghe anh thở dài chị thấy mình có lỗi.
Chị rất muốn chia sẻ những chuyến đi của anh dù chị chẳng hiểu nhiều về nó. Nhưng sự lắng nghe đối với anh dường như là chưa đủ, cái bến bờ bình yên cho anh trở về sau những chuyến đi không đủ níu giữ anh. Thế nên những chuyến đi của anh bắt đầu dài hơn, có khi một tháng anh mới trở về thành phố một lần. Chị đã quen với việc mỗi chiều thứ sáu khi tan trường, chị ra cổng ngóng anh. Dù biết là anh chưa về, những ngày cuối tuần như dài ra bất tận.  
Càng ngày anh càng yêu những chuyến đi của mình, được đắm chìm trong cảnh sắc thiên nhiên tuyệt vời khắp ba miền đất nước. Anh được gặp gỡ nhiều người, những mối quan hệ luôn luôn mới ấy khiến anh không còn nhiều thời gian dành cho chị, dù chỉ là nhớ về nhau. Cuộc sống mỗi ngày mỗi cuốn anh đi xa chị. Anh hiểu và đôi khi anh buồn vì nghĩ rằng mình không phải là bờ vai cho chị dựa. Nhưng họ đã đính hôn, đơn giản vì anh biết chị là người phụ nữ của gia đình. Một người vợ thủy chung luôn chờ anh trở về bên bậc cửa, một người mẹ khéo léo nuôi dạy những đứa con bé bỏng. Một người con dâu hiếu thảo với cha già. Một người chị dâu đủ tình yêu thương, sự khôn khéo để bao bọc những đứa em, khi mẹ anh mất sớm. Biết bao nhiêu người đàn ông trên thế gian này đang cần một người phụ nữ như chị, nhất là những người theo chủ nghĩa xê dịch như anh.
Ngày đính hôn, cha anh mừng mừng tủi tủi, nắm tay hai con dặn dò:
-Hai đứa nhớ phải hết lòng thương yêu nhau. Bố không sống được bao lâu bên các con nhưng lúc nào bố cũng mong rằng các con sống hạnh phúc bên nhau. Cha mẹ ngày xưa nghèo còn đùm bọc nhau vượt qua biết bao nhiêu khó khăn, các con bây giờ đứa nào cũng có công ăn việc làm ổn định, tương lai sáng sủa hơn nhiều. Muốn thương yêu nhau thì trước tiên phải học cách tôn trọng, nhường nhịn, tin tưởng nhau mà sống các con ạ.
Trong giây phút nắm lấy bàn tay già nua của cha anh, chị đã nghĩ không gì có thể mang anh dời xa chị.
                                        
                                         * * *
Anh lại quen một người con gái nữa trong chuyến đi Cửa Lò. Một nữ doanh nhân trẻ tuổi, năng động, thông minh và đầy quyết đoán tên Linh. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ để rất nhiều chàng trai mê đắm. Vẻ đẹp thông minh của người con gái ấy khác hẳn vẻ thùy mị, dịu dàng của chị. Anh bắt đầu sống trong những giai điệu cảm xúc rất mới lạ. Dù anh luôn nhớ rằng mình là một người đàn ông đã đính hôn, và chị luôn chờ anh về lúc thành phố đã lên đèn. Lý trí bảo con tim đừng xôn xao, rung động nữa nhưng con tim cứ đập rộn ràng mỗi khi nghĩ về người con gái ấy. Ở bên Linh, những cuộc tranh luận kéo dài đầy thú vị làm cho anh thấy yêu cuộc sống này hơn. Sự tinh tế, nhạy bén của Linh có sức hút kì lạ, khiến anh dù rất nhiều lần đắn đo nhưng vẫn phải cầm máy điện thoại lên để được nghe thấy giọng nói ấy, tiếng cười trong trẻo ấy.
Anh thừa hiểu Linh không thuộc về mình, người đàn ông cô ấy thực sự cần và luôn luôn chờ đợi càng không phải là anh. Tình yêu vốn không cần phải lý giải về những điều ấy bởi nó có quy luật riêng mà chỉ con tim đang yêu mới hiểu. Đôi khi sự chờ đợi thủy chung của chị đã không làm cho anh thấy hứng thú như những buổi đầu mới hẹn hò, yêu đương nữa. Họ bây giờ giống như những người cùng đi trên một con đường, Linh thản nhiên đi tìm người đàn ông của mình, bỏ mặc anh lẽo đẽo theo sau. Anh cứ mải chạy theo Linh, lại để mặc cho chị đứng bên đường chờ đợi. Biết là như thế nhưng anh vẫn không thể nào dừng lại, anh cứ đuổi theo chiếc bóng phù dung ấy…
Ngày cưới đã đến gần. Bố liên tục gọi điện giục anh về lo chuyện trăm năm, anh cứ khất lần khất nữa, nói không thể bỏ đoàn giữa chừng khi chuyến đi chưa thực sự kết thúc. Một mình chị hết lo nhà gái lại ghé qua thu xếp nhà trai mà lòng chị thì mông lung khó tả. Anh ít trở về thành phố hơn. Dù chị biết có những tour không kéo dài đến thế, anh không về thành phố chỉ đơn giản là anh đang tránh gặp chị mà thôi. Nếu là tình yêu thì dù xa nhau đến mấy chắc chắn anh sẽ biết cách làm cho chị thấy ấm áp và gần gũi như những buổi đầu. Nếu là tình yêu chị đã không phải chờ đợi trong quá nhiều im lặng. Dù mỗi ngày anh gọi cho chị một lần nhưng cũng chỉ để hỏi xem chị có khỏe không? Chị đã ăn cơm chưa? Công việc của chị trong ngày hôm ấy thế nào? Nó giống như những lời thăm hỏi xã giao. Chị nhận ra tuyệt nhiên không có chút nhung nhớ nào trong mấy phút chuyện trò qua điện thoại. Nhưng chị vẫn chờ chiếc điện thoại cất lên bài hát tình yêu, vẫn mong được nghe thấy tiếng anh, vẫn muốn biết là anh đang rất ổn, vì chị vẫn còn yêu anh lắm.
Trời phú cho những người phụ nữ một giác quan tuyệt vời, sự linh cảm của họ luôn luôn đúng. Như chị đã linh cảm về sự thay đổi trong trái tim anh. Chị biết, anh đang đi tìm một người con gái khác, nhưng giá như điều đó xảy ra sớm hơn thì chắc anh sẽ không ngỏ lời cầu hôn chị. Và chị cũng không mắc vào tình thế tiến thoái lưỡng nan như bây giờ. Chị nhắn cho anh “chúng ta đều đã lớn rồi. Hy vọng rằng quyết định kết hôn không phải là nhất thời. Nếu có thể anh hãy nói cho biết mình cần phải làm gì… Mình em, em không thể quyết định nổi vì em rất yêu anh”. Anh đã không hồi âm lại.
Trước ngày cưới một tuần anh trở về. Những bước đi của anh mệt mỏi, rã rời khiến tim chị thắt đau. Họ hẹn nhau ở quán cafe quen thuộc. Anh không mang theo câu chuyện về những chuyến đi như mọi lần gặp lại. Chị cũng không định ngồi nghe anh nói, càng không muốn ngâm cho anh những câu thơ khe khẽ vì chị nghĩ anh đã không chờ đợi chúng. Họ im lặng khá lâu, sự im lặng làm trái tim chị như tan nát. Trong phút giây ấy chị biết rằng mình đã mất anh.
-Chúng ta đã lạc mất nhau, anh có nghĩ thế không?
Anh ngồi im lặng.
-Em không muốn phải đi tìm anh mãi đâu. Nếu anh cứ cố tình muốn dời xa thì làm sao em có thể tìm thấy anh được.
-Hãy cho anh một chút thời gian được không em. Để anh cân bằng lại.
-Chỉ còn một tuần nữa là đến đám cưới rồi. Chúng ta đều đã lớn mà hôn nhân thì không phải một trò chơi. Anh đừng nghĩ em sẽ trói chặt anh chỉ bằng một chiếc nhẫn đính hôn. Vì em biết mình không thể giữ chân anh suốt đời khi mà những chuyến đi luôn chờ đợi anh phía trước. Anh nói đúng, nghề nghiệp của chúng ta quá khác nhau mà tình yêu của em lại không đủ mạnh để gắn kết. Từ giờ phút này coi như em đã cửi trói cho anh. Cũng may là em chưa gửi thiếp mời đi đâu hết.
Lúc chị bỏ đi, anh vẫn ngồi lặng câm trong quán. Anh rất muốn giữ tay chị lại, nhưng con tim lại muốn đi về hướng khác. Còn chị, chị hiểu rằng hai người đã lạc mất nhau dù chị và anh đã đính hôn và vẫn sống trong cùng một thành phố nhỏ bé này.

Vũ Thị Huyền Trang